Hà Ô Lôi
Chắc chắn có nhiều người từng đọc Chuyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam Chích Quái và thấy nhân vật này quá ư quái dị. Hà Ô Lôi có năng lực quyến rũ phụ nữ nhà lành, nhất là các phụ nữ lá ngọc cành vàng trâm anh thế phiệt sống biệt lập trong gác tía lầu son. Quyến rũ ở đây không chỉ là đi flirting thả thính vuốt má vỗ mông mà là seduce rồi đè ra chén luôn, thậm chí chén đi chén lại từ tối đến sáng làm con người ta mê tơi rã hết cả rời.
So sánh với Trương Chi. Anh Trương Chi này không rõ xuất thân, làm nghề chài lưới, có giọng hát làm say đắm lòng người nhưng chấp nhận thân phận cửa dưới và dung nhan xấu xí, dẫn đến mối tình bi kịch: “Mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”
Còn Hà Ô Lôi là con trai của một vị dâm thần (thành hoàng làng Ma La), giao hợp với vợ một vị quan to bằng cách đi vào giấc mộng của bà này (như nam thần Incubus trong thần thoại châu Âu thời trung cổ chuyên đi vào giấc ngủ của phụ nữ mà làm trò dâm loạn).
Mẹ Hà Ô Lôi lúc đầu bị ông chồng là quan to kia vu là chửa hoang, bị hạ ngục, nhưng vua cứu ra: “vợ của ngươi, con là của thần”.
Hà Ô Lôi được vua sủng ái. Hà Ô Lôi có biệt tài mà như ngày nay gọi là biết làm thơ và ngâm thơ (dù mù chữ), có ngoại hình dâm dục (da đen bóng nhẫy), có năng lực tình dục vô biên, và hát thơ rất rất hay. Lại còn nhiều mưu mẹo, sẵn sàng chơi mưu hèn kế bẩn. Kết cục Hà Ô Lôi chết thảm, nhưng chấp nhận cái chết của mình, lại còn khẳng khái đọc bài thơ nôm ý tứ rất thực dụng trước khi chết (như Nguyễn Văn Trỗi ở pháp trường): “Sinh tử do trời sá quản bao. Nam nhi miễn được tiếng anh hào. Thác bề thanh sắc nên là thác. Chết đằng nào nên cơm cháo nào!”
Từ lâu rồi tôi cứ đoán Hà Ô Lôi là người gốc Chàm. Vì chuyện xảy ra thời Trần, ở làng Ma La ngoại thành Thăng Long (tức Xuân La, Từ Liêm/Chèm) là nơi quân Trần nhốt nhiều tù binh Chàm (vốn là các chiến binh giỏi nhất mà bị bắt). Khu quanh hồ Tây này hồi đó cũng nhiều dâm từ, thờ các dâm thần, sau này bị cải biến thành chùa Phật.
Nhưng hôm qua tình cờ đọc lại một bài cũ cách đây hơn 10 năm tên là Tỳ Sa Môn Thiên Vương (Vaisravana), Sóc Thiên Vương và Phù Đổng Thiên Vương trong Tôn Giáo Viêt Nam thời Trung Cổ của tác giả Như Hạnh thì tôi nghĩ có thể Hà Ô Lôi còn có trait từ xa và xưa hơn nữa: Ấn cổ.
Bài viết “Tỳ Sa Môn Sóc Thiên Vương” đại khái nói vị thần bảo hộ phương bắc Vaisravana (Tỳ Sa Môn) được Khuông Việt Thiền Sư đua vào thờ cúng ở triều đình nhà Đinh và sau này là nhà Lê Hoàn (dựa vào hình dáng và vai trò của vị thần này là thống lĩnh đám quỷ yakkha mà ở VN quen với tên gọi quỷ dạ xoa). Khi Lê Hoàn đánh Tống thì vị thần này trỗi dậy trợ giúp đánh Tống. Dần dần qua thời gian vị Tỳ Sa Môn Ấn Độ này bản địa hóa thành Sóc Thiên Vương và cuối cùng là thành Đổng Thiên Vương và là ông Gióng. (Xem thêm Tỳ Sa Môn đi đâu… ở cuối bài này.)
Chuyện Hà Ô Lôi xuất hiện khoảng thế kỷ 13-15 (nhà Trần) và có lẽ được hoàn thiện dần cho đến phiên bản Vũ Quỳnh, Kiều Phú thời Lê sơ. So với chuyện cổ dân gian thì nó có tình tiết lớp lang rắc rối hơn, có thắt mở nút quyến rũ hơn nhiều. Bối cảnh của câu chuyện là thời kỳ (nhà Trần) Phật giáo (Bắc Tông/Trung Hoa) và Nho giáo từ Trung Hoa tràn xuống bắt đầu chi phối chính trị xã hội thượng tầng. Ở tầng dưới, người Việt cổ vốn hồn nhiên và phóng túng trong sinh hoạt tình dục và thờ cúng, nên họ có những tư tưởng phản kháng lại Phật giáo và Nho giáo khắt khe về tình dục (và cả việc coi trọng khoa bảng) từ đó sinh ra Hà Ô Lôi.
Hà Ô Lôi gốc gác từ một vị dâm thần làng Chàm (văn hóa Ấn), vô học (không khoa bảng) nhưng rất có tài (vua yêu hơn cả mấy ông quan học giỏi). Hà Ô Lôi được một cụ già tên là Lã Động Tân (hàm ý đạo sỹ) truyền cho năng lực hát thơ bằng cách nhổ nước bọt vào miệng (hàm ý Đạo giáo nhường chỗ cho Nho giáo và Phật giáo ở bề mặt xã hội nhưng vẫn còn ngầm chảy trong dân gian.)
Do là con của vị thần, được vua đặt tên, nhưng vì vua “không biết họ của thần” nên vua lấy họ Hà đặt tên là Ô Lôi. Họ Hà, có thể là ngầm chỉ vị dâm thần Hindu là Kamadeva (có nghĩa là thần tình yêu, xác thịt), vị thần này có nhiều tên, ví dụ Kama (nghĩa là ham muốn), hoặc Krishna (nghĩa là Đen, Tối, hoặc Lôi cuốn, tương thích với hai chữ Ô Lôi). (Tổ hợp Hà Ô “Lôi” khá giống Đại “Cồ” Việt cho thấy cách sử dụng chữ Nôm đá lẫn chữ Hán ngày xưa cũng phổ biến, như tiếng Việt đá tiếng Anh/Pháp ngày nay.)
Alexander Barton Woodside viết rằng Việt Nam là vùng đất mà hai nền văn minh Ấn và Hán tranh chấp nhau, mà về lâu dài thì văn minh Hán chiến thắng vì nó có ý hệ và phương pháp cai trị vượt trội hơn. Cho nên sau mỗi lần thắng ngoại xâm hoặc nội chiến thì chính quyền trung ương của Việt Nam lại có xu hướng Hán hóa thêm một cấp độ nữa cả về chính trị, tư tưởng và đường lối cai trị. Nhưng chắc ông học giả cây đa cây đề về Việt Nam này không nghĩ đến tranh chấp Ấn – Hán lại có một phiên bản Hà Ô Lôi của dân gian ở ngay bên rìa Thăng Long như vậy. (Chưa kể nó rất hàm ý, và giàu biểu tượng, ở chỗ chồng Tàu (Sĩ Doanh), vợ Việt, mà con là con với một vị thần phương Nam, tức là người Chàm).
Nhưng cuối cùng, đứa con trai lai của hai nền văn minh Việt-Ấn/Chàm ấy vẫn bị bọn Nho gia (rất thâm độc mưu mô) cho vào cối giã đến chết. Phải cho vào cối giã mới chết, cũng thể hiện sức sống mạnh mẽ của dòng chảy Đạo giáo và Phật giáo/Ấn giáo trong văn hóa dân gian Bắc Bộ và có lẽ cũng từng có những đợt đàn áp dã man của triều đình để cải cách văn hóa và tín ngưỡng. Thời kỳ các phiên bản Vũ Quỳnh, Kiều Phú ra đời thì cũng là quãng nhà Lê (sau khi thắng quân Minh) đang Nho hóa mạnh mẽ.
Nghe nói đạo liên sàng yêu cầu thành viên mới phải đọc thuộc lòng chuyện Hà Ô Lôi rồi mới xét đơn gia nhập. Mọi người có thể search Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện Hà Ô Lôi, sẽ ra bản đầy đủ, đọc kỹ trước khi đi thi.
Tỳ Sa Môn đi đâu…
Tiếp sau bài Tỳ Sa Môn – Sóc Thiên Vương của Như Hạnh là bài Giấc mơ Khuông Việt nhìn từ giác độ lịch sử-văn hóa của Nguyễn Thanh Tùng. Hai tác giả và hai bài viết đều có mạch suy luận rất thú vị, nhưng họ lại để ra một khoảng trống hẹp: không lý giải được tại sao Tỳ Sa Môn lại biến mất gần như hẳn khỏi tín ngưỡng chính thống lẫn dân gian của VN, còn Đổng Thiên Vương càng ngày càng nổi tiếng.
Có thể từ cuối Lý đầu Trần, Tỳ Sa Môn (vị thần bảo hộ phương Bắc/Sóc) tức Sóc Thiên Vương đã buộc phải từ bỏ vai trò hộ quốc (bảo vệ quốc gia) của mình và được thờ cúng trong đền/từ để thu hẹp vào vai trò hộ pháp (bảo vệ quốc giáo lúc này đang trỗi dậy là Phật giáo tông phái Trung Hoa) và do đó được thờ cúng trong chùa/tự. Các dâm từ đang thờ cúng các vị thần Hindu đi theo Phật giáo Ấn Độ vào nước Việt dần biến mất và bị cải hóa thành Phật tự.
Thời Lý đền thờ Sóc Thiên Vương được ở đền ở làng Minh Tảo/Cảo Hương bên Hồ Tây (nay là Xuân Đỉnh), cuối Lý thì Sóc Thiên Vương (hộ quốc) bị chuyển biến thành Xung Thiên Thần Vương (vẫn đóng vai hộ quốc) và dần dần trở thành Phù Đổng Thiên Vương (một vị thần bản địa đóng vai trò hộ quốc) và trở thành Thánh Dóng/Thánh Gióng.
Sang Trần, khi Phật giáo đẫm dần màu sắc Trung Hoa thì Sóc Thiên Vương cũng biến mất. Thời Lê Hoàn nơi thờ Sóc Thiên Vương ở Núi Vệ Linh (núi Sóc) vẫn là chùa, sau này (thời Lê Lợi) đền này được hoán cải để thờ Xung Thiên Thần Vương (đền), rồi thành thờ Phù Đổng.
Tỳ Sa Môn Thiên Vương không biến mất vào hư không. Vị thần Phật Ấn này ở thời Khuông Việt (nhà Đinh) được thờ cúng trong đền giữa núi rừng (xa kinh đô). Đến thời Lê Hoàn được tôn lên như một vị thần bảo trợ vương triều chống giặc Tống và được đưa vào chùa. Đến đầu Lý, Tỳ Sa Môn còn được di chuyển nơi thờ tự về gần kinh thành (hồ Tây). Cuối Lý bắt đầu có sự phân tách identity của vị thần Ấn độ này theo hai hướng: thượng lưu chính trị và dân gian. Sang thời Trần, Tỳ Sa Môn bắt đầu được đồng hóa vào một vị thần của Phật giáo – Quán Thế Âm Bồ Tát, lại chính là Tỳ Sa Môn trong Phật giáo Trung Hoa – và được giới thượng lưu chính trị trong triều đình phong kiến nho giáo (thông thạo Bắc Tông hơn Phật Ấn giáo) thờ cúng ở chùa vốn là nơi linh thiêng trong nội thành. Còn Tỳ Sa Môn/Sóc Thiên Vương được cải biến thành một vị thần bản địa chống ngoại xâm và là anh hùng dân gian và đưa ra xa kinh đô để thờ cúng ở đền vốn là nơi thế tục.
Giọng Kẻ Chợ
Nhiều người nhầm giọng Hà Nội “chuẩn” với giọng “Kẻ Chợ”. Hà Nội, nhất là Hà Nội ngày nay không còn giọng “chuẩn”, ngay cả bọn VTV nói càng ngày càng như đấm vào tai (chúng nó có cái thói nói cứ nhấn mạnh và gằn giọng nghe rất kinh)
Nếu có một cái gọi là giọng “chuẩn”, thì nên gọi là giọng Kẻ Chợ chuẩn, thay vì gọi là giọng Hà Nội chuẩn. Giọng này nay gần như không còn nữa. Nhưng mới chỉ hai chục năm trước vẫn còn. Người cuối cùng nói giọng này rất có thể là cái cô đọc thuyết minh phim ở Rạp Tháng 8. (Để hôm nào hỏi lại tên.)
Nguồn gốc của giọng này có từ rất lâu đời. Như sau.
Các vùng bên ngoài tường thành Thăng Long đều gọi là Kẻ (kẻ có nghĩa là vùng). Kẻ Vẽ, Kẻ Giàn, Kẻ Vọng, Kẻ Mơ, Kẻ Sét, Kẻ Láng, Kẻ Bưởi, Kẻ Cót, Kẻ Lủ vân vân. Mỗi kẻ có một giọng riêng, từ Ngọc Hà đi lên Kẻ Bưởi (Yên Thái) giọng đã khác. Trước khi có di dân, có internet, có VTV thì các vùng này ai nói giọng vùng ấy. Đến 198x vẫn vậy.
Lúc nhà Lý về Thăng Long thì họ dựng đô ở gần Hồ Tây (gần Hồ Tây hơn so với Thăng Long nhà Lê). Vì họ đi thuyền từ Sông Hồng vào Tô Lịch (khúc Tô Lịch này nay không còn). Thăng Long thời Lý Trần thì nhỏ và lệch hẳn về phía hồ Tây.
Chợ đầu tiên ở Thăng Long mở thời Lý, là chợ Tây Nhai (nay là chợ Ngọc Hà). Sau Thăng Long mở rộng về phía đê (do đê lùi dần ra xa) thì có thêm nhiều chợ (8 chợ), trong đó Cửa Đông là lớn nhất vì họp chợ cả hai bên bờ sông (Tô Lịch). Vì chợ ven sông nên gọi là chợ búa (búa là cái cầu tàu để thuyền buồm ghé vào đổ hàng).
Tất cả “vùng chợ” đó được gọi là Kẻ Chợ. Nó được đồng nhất với Hà Nội về sau, thậm chí đồng nhất với Đàng Ngoài (Vương Quốc Cacho, Cacho chính là Kẻ Chợ). Kẻ Chợ bắt đầu từ Ngọc Hà, sau dịch chuyển dần lên phía sông Hồng, hình thành các chợ mới Cửa Đông, Đình Ngang, Cửa Nam…
Kẻ Chợ tồn tại suốt nhiều thế kỷ như vậy, ở bên ngoài tường thành. Và tất nhiên nó có giọng riêng. Giọng Kẻ Chợ sau này bao phủ không chỉ khu phố thương mại (phố Hàng) bên kia Hồ Gươm mà còn bao qua cả các khu phố Tây bên này hồ Gươm. Giọng Hà Nội đấy cứng cáp hơn giọng Hà Nội hiện tại, nhất là với các chữ có dấu sắc.
Ngoài giọng riêng, Kẻ Chợ có cách nói riêng, diễn đạt riêng, rất khó bắt chước. Có nhiều người nói được kiểu này, nhưng nổi tiếng nhất là anh Chí Trung và Long Vũ.
Hồi còn làm nghề event, có lần đầu năm gọi anh Chí Trung hỏi cát xê, anh bảo: “Năm mới nhưng giá cũ”. Đại khái đấy là một kiểu nói chỉ Kẻ Chợ mới có.
*
Người Hán họ trắng trẻo nên nhìn các dân khác khác màu da với họ thì họ phân theo màu. Nên có chữ sắc như “sắc tộc”, “sắc dân”. Chắc phương Tây ngày xưa cũng vậy, phân biệt mọi thứ bằng mắt (hình dáng) với bằng tai (giọng nói). Đại Việt cũng vậy, người Kinh nói tiếng khác người Trại nói tiếng khác, còn hình hình dáng thì hao hao nhau.
*
Trong ảnh là cối đá xay gạo nếp đậu xanh. Vốn là cối dùng cho các thế tử chúa Trịnh ở phủ Lương Quốc (khu vực đối diện nhà thờ Hàng Bột). Đến thời Nguyễn thì phủ bị đổi chức năng thành huyện lỵ Thọ Xương. Lúc Pháp chiếm thì họ chuyển huyện lỵ này thành trại tế bần do Giáo Phận Đàng Ngoài quản lý. Lúc xây trại (đồng thời xây nhà thờ bên đối diện, trên đất phủ chúa Trịnh) thì tìm lại được cái cối đá này. Cối có ghi chữ Các Môn và chữ Lương Quốc.
Ảnh kia là chụp cái mâm gỗ vốn sơn son thiếp vàng, của gia đình Nguyễn Du sử dụng khi sống ở khu Bích Câu (với Thăng Long hồi đó thì tương đương khu biệt thự nhà giàu bây giờ). Sau này tài sản sót lại được gom về nhà thờ Hàng Bột.
Cái khăn hoa văn ảnh còn lại là khăn của người Thái Nghệ An. Nghĩa quân người Thái gửi tặng Hoàng Hoa Thám. Lúc Tổng đốc Lê Hoan vừa đánh vừa cầu hoà với Đề Thám thì Đề Thám tặng khăn này. Sau Lê Phổ đi Pháp làm hoạ sỹ, để quên khăn này ở Hà Nội, cũng được quy về Hàng Bột.
PS: cái ghế mây kê cái mâm gỗ thì không có nguồn gốc lịch sử gì cả. Nhà Thờ Hàng Bột là nơi Ngô Đình Diệm ở sau khi được Hồ Chí Minh thả ra khỏi nhà tù (tạm giam bót Hàng Trống).
*
Còn đây là ảnh chụp bộ xa quay sợi, vốn được dùng để dạy các công chúa nhà Lê học nghề dệt.
Lúc đầu xưởng quay sợi đặt ở đất cũ của cung Long Đức (nằm trên khu đất bây giờ là nhà của cựu tbt Lê Khả Phiêu). Cung Long Đức là từ thời Lý, đến thời Lê Trung Hưng thì hoàng thành mở rộng nên cung này thành xưởng quay sợi, vừa để dạy các công chúa vừa là để sản xuất vải cho hoàng cung. Giáo sĩ Marini người Ý đến Kẻ Chợ năm 1666 có mô tả cung làm bằng gỗ, dùng chiếu và rèm vải, là khu vực xưởng này đi vào.
Sau xưởng chuyển ra hẳn bên ngoài thành, phía ngoài cửa Đại Hưng (khúc Trần Phú từ nhà Lê Khả Phiêu đi ra). Sản phẩm phục vụ quan lại. Vì đây là lối đi vào đi làm của quan lại sống bên ngoài tường thành, nên gần đó có một cái chợ của “quan lại”, tức là chợ Cửa Nam sau này. Đến thời Pháp thì xưởng chuyển hẳn ra chợ Cửa Nam.
Năm 1889 Pháp tổ chức Hội Chợ Thế giới (Đấu Xảo/Exposition) ở Paris, họ mời đoàn của triều đình An Nam (Đại Nam của vua Thành Thái) tham gia. Đây là lần thứ 2 triều đình nhà Nguyễn đi dự hội chợ quốc tế) Bộ xa quay sợi này và nghệ nhân được mang sang Paris và hàng ngày đến khu nhà Đông Dương để trình diễn nghề quay sợi.
Sau này bộ xa quay sợi (và nhiều đồ khác) được quy tập về nhà thờ hàng bột (như đã nói ở post trước). Rồi quãng 196x nhà nước lấy về kho, rồi đến đến 198x thì lại đem bán hóa giá như đồng nát. Bây giờ vẫn là đồ đồng nát, ở tản mác khắp nơi, mua rất rẻ, chỉ có điều là đi tìm mua rất vất vả.
*
Miếu gì
Cái chỗ mép Hàm Cá Mập, trước là cái miếu này. Trước nữa thì đây là bờ của một cái hồ, gọi là hồ Hàng Đào, còn goi là hồ Thái Cực (tên đất cũ thời Lê). Hồ Hàng Đào bản đổ Pháp vẫn còn, đề là Lac de Hang Dao. Tức là bị lấp thời Pháp (chắc để xây nhà). Tên phố Cầu Gỗ là vì cái cầu dẫn từ Hoàn Kiếm qua Thái Cực. Đinh Liệt là đáy cái hồ này.
Cả khu này lúc đó là phường Đại Lợi. Họ có Đình Đền Miếu. Đình Đại lợi và đền Đại Lợi (đền Bạch Hổ) nay vẫn còn tuy có bị chuyển chỗ do mở đường. Miếu Đại Lợi (trong hình) thì không rõ có chuyển đi đâu đó quanh đấy không.
Hàm Cá Mập là cái tên chế diễu công trình khi nó mới ra đời, nay là tên quen thuộc. Bản gốc của nó cũng không xấu lắm, không đáng bị chửi. Để lâu thành thân quen, không đáng bị đập. Nó xấu vì các biển hiệu loè loẹt quê mùa, bỏ đi là xong. Mà biển hiệu ở các “phố hàng” xấu và to thì Thạch Lam từ xưa đã chế diễu rồi.
Nhà xấu nhất nên đập, phải là cái nhà UBND TP. Nhìn y như cái máy chém. Hà Nội bao năm cứ lôm côm là vì cái nhà này nó yểm hehehehe.
*
Anh John Phan (John Duong Phan) mấy năm gần đây dần nổi tiếng ra bên ngoài giới chuyên môn của mình, mà chủ yếu nổi ở phía Hà Nội. Cuốn chuyên khảo của anh sắp được Trung tâm châu Á của Harvard phát hành có tên là “Lost Tongues of the Red River: Annamese Middle Chinese & the Origins of the Vietnamese Language“.
Ngoài việc sách chưa ra, thì nó cũng khá đắt mà cũng dày nữa. Trong khi John Phan lại rất đáng đọc. (Do anh này tìm ra 8 từ Hán cổ (thời Hán) và 54 từ Hán cổ (đời Tấn) xuất hiện ở Cổ Loa thời Âu Lạc và hậu Âu Lạc (old chinese du nhập vào tiếng Việt cổ, trở thành từ vựng ESV (Early Sino Vietnamese). Jonh Phan có đặt ra giả thuyết về Annamese Sino Vietanese là cái dẫn đến LSV (Late Sino Vietnanmese) là những thứ góp phần hình thành nên tiếng Việt và Hán Việt hiện đại.) Nên ta có thể tìm pdf bản luận văn của anh này năm 2013 ở DH Cornell về đọc tạm. Bản luận văn có tên:
LACQUERED WORDS:
THE EVOLUTION OF VIETNAMESE UNDER SINITIC INFLUENCES
FROM THE 1 CENTURY BCE THROUGH THE 17* CENTURY CE
Không rõ so với chuyên khảo sắp phát hành (dường như nhấn vào lost tongues) có phát hiện nào mới hơn, luận văn có vẻ như bỏ qua voiceless consonant của người Việt cổ (mà nay một vài phụ âm gần như biến mất, dù chỉ mấy chục năm trước vẫn còn ở miền quê Bắc Bộ). Các tiền đề của luận văn cũng hơi rộng quá: sinitic bao gồm khá nhiều phương ngôn, trong khi ảnh hưởng đến tiếng Việt cổ chắc chỉ một hai, hoặc ba là cùng, khu vực tiếp nhận thì không chỉ có đồng bằng sông Hồng, sông Mã mà tính cả đến sông Cả (dù tác giả cũng nhận thấy miền trung thổ ngữ lại rất phân kỳ).
Phần lõi của tiếng Việt, có một số sơ đồ và phân tích củng cố việc tiếng Việt không phải là sinitic (Hán hệ) mà phải là Nam Á do lõi của nó là MSEA thay vì Altaic, và rất gần gũi về mặt ngữ pháp với tiếng Mon, Khmu, Khmer, Bahnar, Katu vân vân.
Phương pháp nghiên cứu của John Phan (có vẻ như) dựa nhiều vào âm vị học, ít dựa vào hình vị học (nên không xét đến voicless consonant bị mất khỏi tiếg Việt???). Phần này để hiểu cần chuyên môn sâu, cũng khó cho bạn đọc là người ko có nền tảng như mình (mình đọc rất vất vả, mà cũng ko hiểu lắm).
(John Phan nói Bụt là từ cổ nhập từ thời Tấn, nhưng theo Occam’s Razor thì nó đi thẳng từ chữ Budh(बुध् ) vào tiếng Việt thì có lý hơn chứ nhỉ.)
BTW: nói đến các dialect ở miền trung, ngày xưa là một tỉnh rất lớn tên là Bình Trị Thiên. Vì vùng đất này không chỉ khác (hẳn) đồng bằng Hồng Mã về tiếng nói, phong tục, lễ nghi dân gian (cổ truyền) mà có lẽ khác hẳn về thời tiết, địa lý và đặc biệt là canh tác. Ngày xưa khu đó đã được coi là “miền nam” rồi. Ví dụ “Chiêm Nam, Mùa Bắc”.
Miền bắc vụ chính là vụ Mùa, còn miền nam (bình trị thiên) vụ chính lại là vụ Chiêm. (Chiêm là do dùng giống lúa và canh tác du nhập từ Chiêm Thành/Chàm).




*
**
Update: Tại sao chỉ trong một thời gian ngắn anh Báu lại có một lượng người hâm mộ đông đảo. Tại sao khi anh Báu rời đoàn, nhiều người hâm mộ phục anh Báu như “thánh” đồng thời buông lời xỉ vả sư Minh Tuệ.
*
Do tác dụng của mạng xã hội một phần, nhưng là phần nổi, còn phần chìm, chắc chắn là có phần chìm, sâu sắc hơn, ở trong tiềm thức đám đông, dân tộc.
*
Mặc dù gốc gác của Tôn Ngộ Không là mù mờ, thầy học của Ngộ Không có vẻ là một vị thiền sư, nhưng toàn bộ cuộc đời trai trẻ của Ngộ Không hoàn toàn là một vị thánh (đại thánh) của Đạo giáo. Ngộ Không bản chất là một pháp sư đạo giáo, biết rất nhiều phép thần thông, vũ khí của ngài (gậy như ý) và các phép thuật đặc trưng của ngài (cân đẩu vân, phân thân) đều đẫm màu đạo giáo. Ngài cũng là một pháp sư bất tử, mà bất tử là năng lực màu nhiệm nhất của đạo giáo (thông qua luyện đan/luyện đơn) cũng như gắn với tên của các nhân vật gần gũi với đạo giáo (Tứ bất tử).
Cho đến khi bị Phật giáo khuất phục, Ngộ Không là một pháp sư đạo giáo vừa anh hùng vừa phản anh hùng. Ngài quậy khắp thế giới đạo giáo, từ lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân, đến tiệc vườn đào Tây Vương Mẫu và quậy cả đạo quân hùng hậu “mười vạn thiên binh” của Ngọc Hoàng. Trong hành trình thỉnh kinh, đối thủ nổi tiếng nhất của Ngộ Không, cũng là một yêu quái hạng nhất của đạo giáo: Bạch cốt tinh.
*
Ngọc Hoàng (玉皇), còn gọi là Thiên Công (天公) nên trong tiếng Việt là Ông Trời. Ngọc Hoàng là vị thánh đứng đầu hệ thống các ông thánh của Đạo giáo (như thần Zeus trong hệ thống các ông thần Hy Lạp). Nơi ở của Ngọc Hoàng gọi là Ngọc Hoàng Cung, trong tiếng Việt hay gọi là thiên đình (dù là Hán Nôm).
*
Và chúng ta đang có một con voi Đạo giáo khổng lồ trong phòng khách. Hàng năm, trên kênh truyền hình nhà nước (state owned TV) của một nhà nước theo chủ nghĩa cộng sản, cứ vào tối Ba Mươi Tết, trong lúc chờ đón Giao Thừa, cả nước cùng nhau xem vở tấu hài bình dân mà trong đó 100% là bối cảnh thiên đình với nhân vật trung tâm là Ngọc Hoàng. Bất kể chế độ chính trị VN là gì, tôn giáo phổ cập nhất của VN là gì, Đạo giáo vẫn đường hoàng chễm chệ ngồi trong lòng dân tộc mà không ai hay biết. (Nhưng nó mạnh ở đồng bằng sông Hồng và trung du, hơn là ở phía Nam Bắc Bộ, và đi xa hơn nữa, nó còn suy giảm nhiều hơn nữa.)
Cho nên, việc tiềm thức (subconscious) của dân tộc Việt, luôn có động năng (drive) tập thể cực mạnh hướng hành vi lựa chọn của người dân về Đạo giáo. Nó chuyển biến thành các hành vi nhỏ và mơ hồ như lên chùa Ba Vàng cúng tiền, cắt tiền duyên, dâng sao giải hạn. Đến phóng chiếu vào một nhân vật cụ thể như cựu an ninh Báu để rồi đem lòng mê anh í.
Hôm Tết vừa rồi, tôi có dự một bữa tiệc trưa ở Lương Sơn Hoà Bình. Người chơi guitar là Bùi Thiên An. Anh này đột ngột chơi một bản hầu đồng (hát văn) và cô ca sĩ hát opera học ở Ý về hát theo ngay lập tức, rồi tất cả cùng nghiêng ngả hát theo như… lên đồng giữa ban ngày . Ai đã từng dự các giá đồng đều biết, ở khúc thăng hoa, tất cả đều bị kích thích tâm thần lên mức cao, đảo điên như… lên đồng. Không khí ở các discotheque lúc 1am cũng không bao giờ đạt được level đấy, kể cả dùng chất kích thích. Dù hầu đồng là tín ngưỡng mẫu nhưng chất rất gần với Đạo giáo, sự kiện này cho thấy chất đạo giáo âm thầm chảy trong tâm thức rất nhiều người chúng ta.
*
Toạ Vong (Ngồi Quên)
Lưỡng phân (dichtonomy) là bản chất của xã hội, nhất là xã hội Vn, luôn chia phe cãi nhau về bất cứ cái gì.
Nhưng chia phe Minh Tuệ vs Báu thì là tận cùng của vô nghĩa.
Trang Tử nói “Đại biện bất ngôn”, nghĩa là các biện luận lớn đều không thể diễn đạt bằng lời. Các tranh luận xung quanh Minh Tuệ có nhiều chủ đề có thể xếp vào “đại biện”. Nếu cứ dùng lời để cãi nhau thì “ngôn biện nhi bất cập” (Trang Tử), tức là mọi lời tranh luận đều không đạt được mục đích. Tức là “ngôn vi tận bội” (Trang Tử): mọi lời nói đều sai.
Mọi lời nói đều sai thì đừng nghe hai phe nói nữa. Vì mọi lời nói đều sai nên chỉ có bộ hành là còn ý nghĩa.
Đầu đà gốc từ chữ Pali là “dhuta” धुत, nghĩa đen là rũ bỏ bụi trần, phiền não, thực hành thì theo lối tối giản khổ hạnh, đi cả ngày, ăn ít, mặc ít, ngủ ngồi ngoài nghĩa địa, ngôn rất kiệm lời, đôi khi khó hiểu.
Là vì “nơm để bắt cá, bắt được cá thì quên nơm, lưới để bắt thỏ, bắt được thỏ thì quên lưới” (Trang Tử), nếu dùng lời để biện luận mà đạt được mục đích thì sau đó phải quên cái nơm cái lưới ngôn từ (ngôn thuyên).
Để mỗi lúc ngủ ngồi thì “toạ vong” (ngồi quên tất cả) của đạo giáo Trang Tử, tương đương Niết Bàn của phật giáo.
Đạt tới cảnh giới “toạ vong” thì “thiên địa nhất thể” (Huệ Thi), trời đất là một, không còn lưỡng phân nữa.
*
**
Bạn phải đăng nhập để bình luận.