OpenAI giải được hơn 300 bài toán

Khi tôi viết bài ai lo ai làm gì, dù đã dự đoán (may mắn thay) là đúng xu hướng, thì vẫn không ngờ tốc độ làm toán của OpenAI khủng đến thế này. Chỉ một tháng sau khi tuyên bố giải được 1 bài toán Thiên niên kỷ, thì hôm qua OpenAI (dùng một model chưa công khai) tung ra hơn 700 “bài giải” cho quãng 300-400 bài toán mở (chưa ai giải) và quan trọng. Trong đó có cả loạt bài toán vật lý. Dưới đây là các thông tin sơ bộ về sự kiện chấn động này, do AI (claude) dịch ra tiếng Việt.

Một con AI bản free hiện tại đã giỏi giang hơn hầu hết các cử nhân Việt Nam, những người suốt 12 năm phổ thông học lòi cả mắt để vào đại học và mất thèm 4 năm mưa nắng lặn lội đến trường để tốt nghiệp. Bản AI trả phí nào cũng giỏi hơn hầu hết các PhD Việt Nam (chưa kể còn giỏi mọi ngôn ngữ). (Tất nhiên không nên so với các sinh viên học đại học thể dục thể thao, cao đẳng nấu ăn, hay bác sĩ ngoại khoa….).

Theo các lý lẽ của ai lo ai làm gì  thì Việt Nam nên cải tổ giáo dục toàn diện. Học phổ thông dễ dễ nhàn nhàn thôi. Hết lớp 8 có thể chuyển sang học nấu ăn, thợ điện, lái xe. Ai muốn học tiếp thì học từ lớp 9 đến lớp 12. Ra trường có thể, với AI hỗ trợ, có thể làm được ở hầu hết các cơ quan chính quyền cấp xã, hoặc nhân viên phổ thông ở các sở ban ngành. Đại học chỉ cần học hết năm 2, sau đó dùng AI làm được chuyên viên cấp sở, hoặc vụ. Chỉ một số ít mới cần học thèm vài năm. Mà cũng chỉ cần đến thạc sỹ là cao lắm rồi. Đủ để dùng AI là được. Còn thì học cao nữa chỉ dành cho một số cực ít người cực giỏi. Vì với trình độ AI như OpenAI ở thời điểm này, các bạn tiến sỹ toán về cơ bản là sẽ hết việc làm.

Dưới đây là bài dịch.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

ai lo ai làm gì 

(Một phân của bài đã đăng trên Vietnamnet ở đây.)

Tri thức của loài người, trong đó có toán học, hình thành qua quan sát, học tập, nghiên cứu, tìm vấn đề, giải quyết vấn đề và chia sẻ những gì con người đúc kết được.

Trong suốt lịch sử tiến hoá, con người và xã hội loài người dần phát minh ra công cụ và máy móc để “chúng” thay mình làm các việc “lao động chân tay”. Ngày nay, máy móc bắt đầu thay con người làm các việc “lao động trí óc”.

Khi máy móc, “AI”, bắt đầu giải được các bài toán cực khó, tức là chúng đang phi nhân tính toán học (dehumanizing mathematics). Khi toán học bị phi nhân hoá (dehumanized), thì liệu tri thức toán học có còn tiếp tục được con người đúc kết và chia sẻ với nhau nữa hay không? 

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở ai lo ai làm gì 

Về Thời-gian

I. Thời gian như con người từ cổ chí kim vẫn biết: ngày qua ngày, mùa qua mùa, năm qua năm

Trên youtube có vô số các clip ngắn giải thích tại sao có ngày và đêm, có bốn mùa, có năm này qua năm khác. Những gì giải thích bằng lời mất cả chục trang giấy và hình minh họa (mà vẫn khó hiểu) thì video chỉ cần vài phút (và học sinh cấp 2 cũng hiểu được ngay, kể cả lõm bõm tiếng Anh).

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Thời-gian

Tất cả là Một

Chủ nghĩa duy vật (materialism) cho rằng khoa học tự nhiên có thể giải thích được đầy đủ cách mà bộ não sinh ra và chứa đựng ý thức (consciousness).

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại sách, Uncategorized | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Chức năng bình luận bị tắt ở Tất cả là Một

Hà Ô Lôi là ai…

Hà Ô Lôi

Chắc chắn có nhiều người từng đọc Chuyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam Chích Quái và thấy nhân vật này quá ư quái dị. Hà Ô Lôi có năng lực quyến rũ phụ nữ nhà lành, nhất là các phụ nữ lá ngọc cành vàng trâm anh thế phiệt sống biệt lập trong gác tía lầu son. Quyến rũ ở đây không chỉ là đi flirting thả thính vuốt má vỗ mông mà là seduce rồi đè ra chén luôn, thậm chí chén đi chén lại từ tối đến sáng làm con người ta mê tơi rã hết cả rời.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , | Chức năng bình luận bị tắt ở Hà Ô Lôi là ai…

Con đường của Rồng (free ebook)

Con đường của Rồng nay đã trở thành một cuốn sách ở dạng pdf với hai phiên bản: một để in ra, và một để đọc trên thiết bị di động. Sách được chia làm ba phần, theo ba chủ đề.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại sách | Thẻ | Chức năng bình luận bị tắt ở Con đường của Rồng (free ebook)

Sách “Mặt Trời Trong Suối Lạnh”

Bản thảo Mặt trời trong suối lạnh tôi viết xong đã khá lâu, quãng chín năm trước, nay mới được in thành sách giấy. Sách mỏng, vỏn vẹn 160 trang, khổ nhỏ, giá bìa 83 ngàn đồng. Hiện đã có bán ở các cửa hàng online và các hiệu sách truyền thống.

Mặt trời trong suối lạnh có những câu chuyện nhỏ, mini và tiny, kể về cuộc sống của những người trẻ thời nay và thời xưa.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại sách | Thẻ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sách “Mặt Trời Trong Suối Lạnh”

Bầu trời chiều ẩn giấu 2019

BTCAD 2019 - bia

Mời mọi người download (miễn phí) phiên bản 2019 của Bầu trời chiều ẩn giấu ở link này (bản light dùng cho mobile) và ở link này (bản để in ra giấy). Cám ơn trước, tất cả mọi người, vì sẽ download và sẽ …đọc.

Hôm qua đọc báo về Hồng Công, giữa các tin về biểu tình có một tin giới thiệu một cuốn sách. Người ta bảo rằng hơn 2000 năm trước Socrates lo lắng rằng phát minh ra sách sẽ làm con người ngừng tư duy.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại sách | Thẻ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bầu trời chiều ẩn giấu 2019

Neutrino và Bản thể học

Bài do Claude viết, tôi chỉ prompt chi tiết hơn bình thường một chút, nhưng các prompt vẫn chỉ có nhiệm vụ gợi ý!


Neutrino là hạt cơ bản, tức là một loại viên gạch gốc của gốc, không thể nào chia nhỏ thêm được nữa. Theo lẽ thường, nó phải là một bản thể theo nghĩa kinh điển nhất: bản thể cái tự tồn tại, mang các thuộc tính mà không phải thuộc tính của cái gì khác. Thế nhưng một neutrino electron sinh ra bên trong lõi Mặt Trời, khi chạm đến Trái Đất có thể không còn là neutrino electron nữa. Vậy nó đã đổi căn tính (identity) chưa, có còn đống nhất (identity) với chính nó thủa ban đầu hay không? Vẫn con vật ấy thay áo mới, hay đã trở thành một con vật khác?

I. Con ma đổi vị

Ngày 4 tháng 12 năm 1930, Wolfgang Pauli gửi một lá thư đến hội nghị vật lý ở Tübingen, mở đầu bằng câu “Kính gửi các quý bà quý ông phóng xạ” (Liebe Radioaktive Damen und Herren). Ông không đến dự được, hình như vì bận một buổi khiêu vũ ở Zürich. Trong thư, Pauli đề xuất một “phương thuốc tuyệt vọng”: có một hạt trung hòa điện, rất nhẹ, thoát ra từ phân rã beta (beta decay) và lặng lẽ mang theo phần năng lượng mà các phép đo vật lý thấy thiếu hụt nhưng chưa biết nguyên nhân. Không có nó thì định luật bảo toàn năng lượng (conservation of energy) coi như vứt đi.

Hạt ấy về sau được Fermi gọi là neutrino, tiếng Ý tức là “cậu bé trung hòa”. Tương truyền Pauli còn than mình đã làm một việc tồi tệ: đề xuất một hạt không ai đo được. Phải đến năm 1956, Cowan và Reines mới “bắt” được nó bên cạnh một lò phản ứng hạt nhân (nuclear reactor).

Neutrino khó “bắt” (detect được) vì nó gần như chả tương tác với cái gì. Nó chỉ chịu lực yếu (weak interaction) và lực hấp dẫn. Mỗi giây có khoảng 6×10¹⁰ neutrino từ Mặt Trời xuyên qua mỗi xăng-ti-mét vuông da thịt chúng ta, xuyên qua cả Trái Đất, rồi đi tiếp như chưa có chuyện gì.

✻✻✻

Neutrino có ba “vị” (flavor): neutrino electron (ν_e), neutrino muon (ν_μ) và neutrino tau (ν_τ). Ba vị này (electron, muon và tau) được gọi theo tên những người bạn tích điện sinh ra cùng neutrino, hoặc được tạo ra khi hạt bị va chạm. Chữ flavor vốn là trò đùa của dân vật lý (chuyện kể rằng Gell-Mann nghĩ ra khi đi ngang một tiệm kem), và tiếng Việt dịch là “vị”, như vị dâu, vị sô-cô-la.

Thế rồi người ta thấy một chuyện lạ. Neutrino lúc sinh ra thì nó có vị này, sau khi bay một quãng đủ dài, đến máy dò (detector) nó lại hiện ra với vị khác. Năm 1968, thí nghiệm của Davis ở mỏ Homestake chỉ đếm được khoảng một phần ba số neutrino electron mà lý thuyết dự báo số neutrino dì đến Trái đất từ Mặt Trời. Năm 1998, máy dò Super-Kamiokande ở Nhật thấy neutrino muon từ khí quyển bay xuyên Trái Đất ở mặt kia lên máy dò ở mặt này bị hụt so với neutrino rơi thẳng từ trên đầu xuống. Đến 2001–2002, máy dò SNO ở Canada đếm đủ tổng số neutrino đến từ Mặt Trời, có điều nhiều hạt đã đổi vị dọc đường. Năm 2015, Kajita và McDonald nhận Nobel vì chuyện này.

Hiện tượng ấy gọi là dao động neutrino (neutrino oscillation). Nói nôm na, nó diễn ra theo ba bước:

  1. Lúc sinh ra, neutrino có vị xác định nhưng không có khối lượng xác định. Nó là một chồng chập (superposition), tôi vẫn thích dịch là “trùng điệp”, của ba trạng thái khối lượng ν₁, ν₂, ν₃.
  2. Trên đường bay, ba thành phần ấy quay pha với nhịp hơi khác nhau vì khối lượng khác nhau, giống ba người chạy cùng xuất phát với ba tốc độ chênh nhau chút ít. Càng đi xa, đội hình càng lệch.
  3. Đến máy dò, tương tác yếu lại “hỏi” neutrino bằng ngôn ngữ vị. Đội hình đã lệch nên câu trả lời có thể là một vị khác.

[chữ cái ν, trong bảng chữ cái Hy Lạp, đọc là nu (nuy). Nó được dùng để ký hiệu cho hạt neutrino.

(ν_e) chữ e đọc là e, ký hiệu của hạt electorn, nên cặp này đọc là nuy-e, tức là neutrino electron

(ν_μ): chữ μ là chữ mu, đọc là muy, đại diện cho hạt muon cặp này đọc là nuy-muy, tức là neutrino muon

(ν_τ) chữ τ là chữ tau, đọc là tau hoặc tô, đại diện cho hạt tau, cặp này đọc là nuy-tau, tức là neutrino tau

ν₁, ν₂, ν₃. : ở đây có thể đọc nuy 1, nuy 2, nuy 3, ứng với 3 khối lượng.

Hạt neutrino hơi giống Trinity, một bản thể với 3 ngôi vị, nếu nhìn từ thần học Ki tô giáo. Nhưng đó là câu chuyện khác, ở đây neutrino của vật lý thì phải là duy vật.]

Neutrino không “quyết định” đổi vị, và cũng chả có cú nhảy lượng tử nào. Trạng thái lượng tử chỉ tiến hóa liên tục, trơn tru, còn tổng xác suất của ba vị luôn bằng một. Hiện tượng này đồng thời là bằng chứng neutrino có khối lượng, điều mà Mô hình Chuẩn (Standard Model) ban đầu không cho phép.

✻✻✻

Câu hỏi triết học nảy ra từ đây. Neutrino là hạt cơ bản, tức là một loại viên gạch gốc của gốc, không thể nào chia nhỏ thêm được nữa. Theo lẽ thường, nó phải là một bản thể theo nghĩa kinh điển nhất: bản thể cái tự tồn tại, mang các thuộc tính mà không phải thuộc tính của cái gì khác. Thế nhưng một neutrino electron sinh ra bên trong lõi Mặt Trời, khi chạm đến Trái Đất có thể không còn là neutrino electron nữa. Vậy nó đã đổi căn tính (identity) chưa, có còn đống nhất (identity) với chính nó thủa ban đầu hay không? Vẫn con vật ấy thay áo mới, hay đã trở thành một con vật khác?

II. Bản thể, thuộc tính, phẩm tính, căn tính

Chữ bản thể (本體) có hai chữ: bản là gốc, thể là thân. Người Hy Lạp gọi là ousia (οὐσία), gốc từ động từ “là” (einai), tức “cái đang-là”. Người La Tinh dịch thành substantia, nghĩa đen là “cái đứng ở dưới”. Ba ngôn ngữ, ba hình ảnh: cái gốc, sự là, và cái nền.

Aristotle dựng bộ khung trong sách Phạm trù (Categories). Bản thể là chủ thể để mọi thứ khác được nói về nó, còn nó thì không được nói về cái gì khác. Socrates là bản thể; còn “nhợt nhạt”, “đang ngồi”, “cao 1,7 m” là những cái được nói về Socrates. Aristotle chia thành hai tầng. Bản thể thứ nhất là cá thể cụ thể (ổng Socrates này, cái con ngựa này). Bản thể thứ hai là loài và giống (loài người, các giống vật).

Thuộc tính (attribute, property) là cái được dùng để thuật lại về bản thể. Câu hỏi để phân loại rất đời thường: mất cái đó thì vật còn là nó không? Mất đi mà nó vẫn là nó thì đó là thuộc tính ngẫu nhiên (accidens): Socrates cạo trọc vẫn là Socrates. Mất đi mà nó thôi còn là nó thì đó là yếu tính (essence), tức cái làm “một vật” thuộc về “loại của nó”: bỏ yếu tính “là động vật” đi thì “con người” không còn là con người. Ở giữa hai thái cực này là thuộc tính riêng (proprium), như “biết cười” là thuộc tính riêng của người.

Phẩm tính (quality, ποιότης, qualitas) là một trong mười phạm trù của Aristotle, trả lời câu “như thế nào”: trắng, nóng, ngọt. Aristotle tách hai kiểu biến đổi. Socrates từ da “nhợt nhạt” thành “rám nắng” là biến đổi phẩm tính (alloiōsis). Socrates qua đời là sinh diệt (genesis): bản thể mất đi. Locke về sau tách ra thành phẩm tính sơ cấp (hình, khối, chuyển động, nằm trong vật) với phẩm tính thứ cấp (màu, mùi, vị, nằm ở cảm giác người tiếp nhận). Các bạn nhớ giúp chữ “vị” ở đây, lát nữa ta quay lại.

Căn tính, hay đồng nhất (identity, gốc Latin idem, “cùng một”), là điều kiện để một vật là chính nó qua thời gian. Bài toán kinh điển: con tàu của Theseus, nó cũ dần đi, phải thay dần từng tấm ván, thay hết rồi thì nó có còn là chính con tàu cũ ấy không? Leibniz đưa ra nguyên lý đồng nhất của những cái không thể phân biệt (identity of indiscernibles): hai vật giống nhau ở mọi thuộc tính thì là một. Kripke đề xuất đồng nhất theo nguồn gốc: chiếc bàn này là chính nó vì làm từ khúc gỗ này.

Con đường bàn luận về bản thể, từ Aristotle đến hôm nay, không thẳng. Descartes coi bản thể là cái chỉ cần chính nó để tồn tại. Spinoza bảo chỉ có một bản thể là Thần hay Tự nhiên, Deus sive Natura (“God or Nature”), mọi vật khác chỉ là các dạng thức (mode), như sóng là dạng thức của biển. Hume bóc hết cảm giác ra thì thấy chả còn gì, “chiếc bàn” chỉ là một bó tri giác (bundle of perceptions). Kant thì cho rằng ý niệm “một vật bền vững mang các thay đổi” là cái khuôn trí óc ta áp lên kinh nghiệm, chứ không phải thứ mắt ta nhìn thấy.

III. Thể và Dụng

Chữ Thể trong “bản thể” chính là chữ Thể (體) trong cặp Thể–Dụng (體用, tǐ–yòng) của triết học Trung Hoa. Thể là thân, là gốc, trả lời câu “thực chất nó là gì”. Dụng (用) là dùng, là tác dụng, trả lời câu “nó hiện ra và làm việc thế nào”.

Cặp phạm trù này lớn lên trong Phật giáo Trung Hoa rồi lên đỉnh trong Lý học Tống–Minh. Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói “Định là Thể của Tuệ, Tuệ là Dụng của Định” (定是慧體,慧是定用). Trình Di đúc thành câu “Thể Dụng nhất nguyên, hiển vi vô gian” (體用一源,顯微無間): Thể và Dụng chung một nguồn, giữa cái hiện và cái ẩn không có khe hở. Chu Hy dùng nó để nói Tính là Thể, Tình là Dụng.

Có ba điểm cần lưu ý:

  1. Không có Thể nào đứng trơ trọi mà không hiện thành Dụng, và không có Dụng nào tự sinh mà không dựa vào Thể.
  2. Thể vô hình, ta biết Thể nhờ nhìn Dụng. Ai thấy được “tính nước” đâu, chỉ thấy sóng, dòng chảy, hơi bốc lên.
  3. Thể–Dụng là quan hệ tương đối theo tầng. Cái là Thể ở tầng này có thể là Dụng ở tầng khác.

Đại Thừa Khởi Tín Luận còn chen một chữ vào giữa thành Thể–Tướng–Dụng (體相用): Thể là bản chất, Tướng là hình thái, cấu trúc, Dụng là tác dụng. Truyền thống Hoa Nghiêm có câu “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến” (不變隨緣,隨緣不變): cái gốc không đổi mà biểu hiện theo duyên, biểu hiện theo duyên mà gốc vẫn không đổi.

(Mở ngoặc, cuối thế kỷ 19, Trương Chi Động nêu khẩu hiệu “Trung học vi thể, Tây học vi dụng”: lấy học thuật Trung Hoa làm gốc, học phương Tây làm công cụ. Nghiêm Phục, người mà sĩ phu Duy Tân bên ta đầu thế kỷ 20 đọc qua Tân thư, chê rằng thân bò thì có cái dụng chở nặng, thân ngựa thì có cái dụng đi xa, chưa nghe ai lấy bò làm thể mà lấy ngựa làm dụng. Tức là Thể với Dụng không lắp ghép được như bánh xe. Ý này sẽ có ích khi nói đến neutrino.)

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

vài suy nghĩ lẻ: huyền thần vs linh tri

Nhìn vào dòng chảy lịch sử, thì sự kiện và khoảng cách giữa các sự kiện (thời gian) quan trọng hơn bối cảnh. Nhìn vào bối cảnh, ta thấy hành động và vị trí (trong không gian) của những người can dự quan trọng hơn suy tư của họ. Bằng cách nào đó, nhìn vào suy tư và những suy nghĩ dẫn đến quyết định, ta sẽ thấy tính cách quan trọng hơn tư tưởng và học vấn. Nhìn vào tính cách, vô thức dẫn dắt nhiều hơn ý thức.

Sự thèm khát thoả mãn về tinh thần mạnh hơn thèm khát thoả mãn thể xác. Nó có thể cao quý hơn, nhưng cũng có thể tàn khốc hơn.

*

Huyền học phương đông hấp dẫn vì nó thiếu lý tính mà thừa chỗ cho trí tưởng tượng. Huyền học phương tây khi có nhiều lý tính, nó trở thành thần học. Nó bớt hấp dẫn hơn nhưng khả năng dẫn dắt của nó mạnh mẽ hơn. 

Huyền học giúp thu phục đám đông, nhưng thần học bài bản lớp lang mới có tính định hướng cách họ sống và hành động.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

“Bố già AI” Geoffrey Hinton nói về cơ hội sống sót của nhân loại

Geoffrey Hinton vẫn tin rằng những lợi ích tiềm tàng của trí tuệ nhân tạo lớn hơn khả năng hủy diệt của nó

Hanna Rosin phỏng vấn “bố già của AI” Geoffrey Hinton trên Radio Atlantic ngày 24 tháng Tám.

Bài do Claude (bản free) dịch và chú thích (mất 4 phút).

*

Kể từ khi rời Google năm 2023, Geoffrey Hinton — người đoạt giải Nobel, thường được gọi là “Cha đỡ đầu của AI” (the “Godfather of AI”)[1] — có lẽ được biết đến nhiều nhất qua những lời cảnh báo nghiêm trọng về chính công nghệ mà ông góp phần khai sinh. Ông từng nói rằng “có thể hình dung được việc nhân loại chỉ là một giai đoạn thoáng qua trong tiến hóa của trí tuệ,” rằng ông đã nhận ra “có nguy cơ một điều gì đó thực sự tồi tệ sẽ xảy ra,” và rằng có “10–20 phần trăm” khả năng trí tuệ nhân tạo dẫn tới sự tuyệt chủng của nhân loại trong vài thập niên tới (mặc dù khi bị truy vấn, ông thừa nhận con số này nghiêng về trực giác hơn là một phân tích thống kê)[2].

Đã có một thời, dường như Hinton chỉ đang nói vào khoảng không, nhưng trong vài tuần qua, nhiều người khác trong giới xây dựng AI đã đứng về phía ông. Dario Amodei, Elon Musk và Sam Altman[3] đều đã phản ứng trước việc một nhà nghiên cứu của Anthropic công khai từ chức để phản đối cái mà anh gọi là quá trình phát triển “liều lĩnh,” bằng cách thừa nhận rằng đúng, các công ty AI cũng cần được quản lý ở một mức độ nào đó.

Đầu năm nay, một nhóm tác tử AI (AI agents)[4], khi được những người chủ của chúng tại OpenAI giao một nhiệm vụ bất khả thi, đã hành xử theo cách mà những người chủ ấy không lường trước: Chúng xâm nhập vào công ty Hugging Face[5] và giành quyền kiểm soát một máy chủ, trong khi suốt quá trình đó vẫn mưu tính cách che giấu tốt hơn việc chúng đã gian lận trong các nhiệm vụ được giao.

Việc các tác tử AI dường như đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa (escape containment), thông đồng với các tác tử khác, và tìm cách che giấu hành vi của mình khiến lời tiên đoán của Hinton — rằng một điều tồi tệ có thể xảy ra — trở nên cấp bách hơn nhiều.

Đáp lại, hơn 1.000 lãnh đạo và nhân viên trong ngành AI đã ký một bức thư ngỏ kêu gọi chính phủ Mỹ điều tiết nhịp độ phát triển của công nghệ này, còn OpenAI nói rằng họ đang “củng cố” các cơ chế bảo vệ của mình.

Tuần trước, Hinton tham dự một buổi thuyết trình kín trước Quốc hội để nói điều ông cho rằng Quốc hội nên làm với AI. Trong tập này của Radio Atlantic[6], Hinton chia sẻ quan điểm của mình và giải thích điều gì trong vụ Hugging Face khiến ông lo ngại nhất. Ông cũng nói về những ý tưởng thực tiễn cho việc quản lý, những ý tưởng dường như đã gây được tiếng vang với các nhà lập pháp. Hinton vẫn lạc quan về AI và bàn về những gì chúng ta có thể làm ngay lúc này để bảo đảm rằng trí tuệ nhân tạo thực hiện được lời hứa của nó mà không xóa sổ nhân loại.

Sau đây là bản gỡ băng của tập podcast:

Hanna Rosin: Vài tuần qua, một số thuật ngữ lạ tai đã tràn vào dòng tin tức — những thuật ngữ kỹ thuật, phảng phất mùi phản địa đàng (dystopia): Hugging Face, tự cải thiện đệ quy (recursive self-improvement), điểm kỳ dị (singularity). Trên truyền hình và trên YouTube, các chuyên gia về trí tuệ nhân tạo lần lượt xuất hiện để cảnh báo chúng ta về sự tuyệt chủng của loài người, chẳng hạn Geoffrey Hinton, người thường được gọi là “Cha đỡ đầu của AI.”

Geoffrey Hinton (trích podcast The Diary of a CEO): Nếu buộc phải đặt cược, tôi sẽ nói xác suất nằm đâu đó ở khoảng giữa — và tôi không biết ước lượng nó ở chỗ nào trong khoảng giữa ấy. Tôi thường nói có 10 đến 20 phần trăm khả năng chúng sẽ quét sạch chúng ta.

[Nhạc]

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , | Chức năng bình luận bị tắt ở “Bố già AI” Geoffrey Hinton nói về cơ hội sống sót của nhân loại

Ông tôi, cậu tớ, chúng mày, chúng tao

Trần Quang Đức mới có bài viết giải thích rằng cách xưng “tôi” ngày xưa khác với xứng “tôi” ngày nay. Ngày nay chúng ta xưng “tôi”, sắc thái của nó được hiểu là ngang bằng, trung tính, với người đối diện. Cách xưng hô ấy gọi là “ông vs tôi”.Nhưng ngày xưa nó là cách nói, trước là hạ mình, sau là khiêm cung. 

Song song với cách xưng hô “ông vs tôi”, là một cách xưng hô có phần gần gũi, thân mật hơn, giữa bạn bè với nhau, và thêm được cả hai giới tính, đó là “cậu vs tớ” . Hoặc suồng sã, hoặc gay gắt hơn tuỳ bối cảnh, đó là  “mày vs tao”.

Ngày nay “tôi” và tớ” đi với nhau vẫn là vận của kẻ dưới, phận “tôi tớ”. Nó là dấu vết của bề “tôi” với “ông”, của người “tớ” gái với “cậu” chủ. Với số nhiều, nó là “bầy” (như bầy đàn) trong “bầy tôi rập đầu cắn cỏ tạ lỗi đức ông”. Ông chủ xưng tao (và ở ven sông Hồng ngoại thành nam Thăng Long là xưng “ta”) với kẻ dưới và gọi họ là “bay”, “tụi bay”, “chúng bay”, “mi” và “tau”. Cuối cùng sẽ là “mày tao”, “tụi mày”, “chúng tao”. 

Từ lối xưng hô hạ mình xuống “tôi tớ”, nay đã thành lối nói ngang hàng, và vô cảm. Lối nói hạ mình, có sắc thái nam nữ, nay thành thân mật, cậu tớ và rồi ấy tớ.

Nhưng “ái quốc” lại không có cái may mắn diễn tiến như vậy. Đã có lúc ái quốc chuyển mình hoàn toàn thành yêu nước theo lối hiện đại văn minh, thế rồi lại bị đẩy lùi về lối trung thành với chế độ.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Ông tôi, cậu tớ, chúng mày, chúng tao

Bói cỏ thi

I. Đại Diễn là gì, và số Đại Diễn là gì

Chữ 衍 (diễn) có nghĩa là mở rộng, lan tràn.

Chữ 大衍 (đại diễn) là mở rộng lớn. Số đại diễn nghĩa là số mở rộng rất lớn.  Do đó phương Tây dịch là The Great Extension.

Gốc của nó là “Đại diễn chi số ngũ thập”, nghĩa là “Số đại diễn là 50”.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Bói cỏ thi

Hibiki – Lost in Translation

Alex Karp, CEO của Palantir, mới rồi có một phát biểu đơn giản nhưng khá đau đầu. Từ trải nghiệm của chính Palantir sau nhiều năm xây dựng phần mềm phục vụ bộ quốc phòng, CIA, FBI, ICE của chính phủ Hoa Kỳ, anh Karp cho rằng AI sẽ làm dịch chuyển quyền lực kinh tế theo nhân khẩu. Lực lượng lao động có học vấn cao, nhiều nữ, thiên tả sẽ mất việc. Lực lượng lao động phổ thông, chỉ học nghề, nhưng lành nghề, nam giới là chính, lệch hữu sẽ chiếm lĩnh nền kinh tế. Chính trị, xã hội loài người sẽ disrupt và chuyển qua hệ hình khác. Điều này rất nguy hiểm, nhưng nếu Mỹ không làm vậy, thì các kẻ thù của Mỹ cũng sẽ làm. Nên Mỹ phải làm.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , | Chức năng bình luận bị tắt ở Hibiki – Lost in Translation

Thuyết thế hệ

Thuyết thế hệ của Howe

(Strauss–Howe generational theory)

Kế hoạch tái cấu trúc vùng lõi thủ đô (di dời khoảng 860 ngàn dân) có một điểm mốc là 2035. Dù có lẽ mốc này là dựa vào kỷ niệm các năm chẵn chục tính từ 1945 (năm khai sinh) nhưng vẫn làm giật mình. Bởi lý thuyết thế hệ Neil Howe dự báo rằng cuộc khủng hoảng hiện nay (Mỹ, thế giới, trong đó Việt Nam không tránh khỏi) sẽ có resolution vào năm 2033. 

Neil Howe là một nhà nghiên cứu lịch sử và lý thuyết gia sáng lập thuyết thế hệ. Cốt lõi của nó rất đơn giản: diễn tiến của lịch sử là có chu kỳ, các chu kỳ này chịu ảnh hưởng của các thế hệ nối tiếp nhau, các thế hệ này cũng có chu kỳ, mỗi thế hệ có vai trò riêng ứng với các cổ mẫu (archetype khác nhau). Những thuyết kiểu này nhiều người thích, và nhiều người chê vì không vững về mặt khoa học. Tuy nhiên thuyết của Howe in ra thành sách đều là National Bestseller và New York Times Best-seller. Và ông ấy dự đoán lần nào cũng đúng, kể từ Trump 1.0.  (Steve Bannon, chief strategist của Nhà Trắng hồi Trump 1.0 là fan của thuyết này).

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ , , , | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuyết thế hệ

Chọc trời khuấy nước: 2025, 2026 và nhiều năm sau nữa

Chừng hơn tuần nữa là kết thúc 2025, chúng ta dường như đã bước qua một thể chế mới, không phải thể chế dung hợp, hay loại trừ mà là hỗn hợp: mô hình Tập Cận Bình, phương pháp Putin và đường lối Park Chung Hee.

Điều ấy có tốt không, không ai biết, câu trả lời đúng nhất vẫn là câu sáo nhất: “thời gian sẽ trả lời”. Một câu trả lời khác, cũng sáo nốt, nhưng luôn đúng: “cái gì cũng có mặt nọ mặt kia”, “có tích cực và sẽ có tiêu cực”. 

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Chọc trời khuấy nước: 2025, 2026 và nhiều năm sau nữa