(Bài viết được AI rà soát và bổ sung thông tin, dữ kiện.)
Trong tiếng Việt, những gì không phải do tự nhiên hay đấng tạo hóa (nature/God) làm ra thì thường được gọi là “nhân tạo”, kể cả “thụ tinh” cũng nhân tạo. Từ tương đương trong tiếng Anh là artificial. Ví dụ: artificial intelligence (trí tuệ nhân tạo).
Trong tiếng Anh có từ creature, tiếng Pháp có từ créature. Gốc Latin của nó là creatura, xuất phát từ động từ creare, nghĩa gốc là tạo ra, sinh ra; đuôi -ura chỉ kết quả của hành động. Trong thần học Kitô giáo, creare mang nghĩa đặc biệt là tạo dựng từ hư không, và creatura được dịch là “thụ tạo” (受造), với tạo là tạo dựng và thụ là nhận. Mọi thứ có trong vũ trụ này (dù hiểu là kể từ Big Bang, do một hiện tượng lượng tử khai sinh như một số giả thuyết vũ trụ học, hay do Thượng Đế toàn năng tạo ra) đều được gọi là “thụ tạo”.
Ngược lại, tất cả những gì không phải do tự nhiên tạo ra, mà do con người tạo ra, gọi là artificial trong tiếng Anh, gốc Latin artificium. Chữ này ghép ars (tay nghề, kỹ thuật) với facere (làm). Tiếng Việt gọi là “nhân tạo” (人造).
Như vậy, trong tiếng Việt cả hai bên đều nói về những thứ được tạo ra: nếu không do thiên nhiên thì do con người. Nhưng gốc Latin hàm ý hơi khác: một bên là được tạo dựng nên (theo nghĩa thần học, từ không có gì), một bên là được làm ra từ những gì đã có sẵn.
Tuy nhiên, chữ nghĩa chỉ ghi lại cách người xưa suy nghĩ và diễn đạt. Bản thân chữ nghĩa không chứng minh được gì về sự vật. Ta cần thận trọng khi suy từ chữ gốc ra bản chất sự vật, kẻo rơi vào ngộ nhận từ nguyên (etymological fallacy). Vì vậy ở đây tôi chỉ dùng từ nguyên để gợi ra một phân biệt khái niệm, không dùng làm bằng chứng.
Để làm rõ phân biệt ấy, cần nhắc lại khung khái niệm của thần học Kitô giáo. Thần học chia hiện hữu làm hai. Một bên là Thiên Chúa, Đấng không do ai tạo ra (ens a se, hữu thể tự mình mà có). Bên kia là toàn bộ thụ tạo (creaturae).
Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ (và các loài thụ tạo) từ hư không (creatio ex nihilo). Trước sáng thế hoàn toàn không có bất kỳ “vật liệu” nào, cũng không có khuôn mẫu (hình dáng, hình thái hiện hữu) nào có trước. Ngay cả không gian và thời gian cũng là thụ tạo. Chữ “trước” ở “trước Sáng thế” hay “trước Big Bang” chỉ là một cách diễn đạt cách thô sơ, vì chưa có thời gian để phân “trước” hay “sau”. (Trong vũ trụ học hiện đại, nơi Big Bang đánh dấu khởi đầu của không-thời gian. Tuy nhiên đồng nhất sáng thế với Big Bang là một lập trường triết học nhiều hơn vật lý. Chính Georges Lemaître, nhà vật lý kiêm linh mục đề xuất mô hình này, cũng giữ hai chuyện này tách bạch.)
Các loài thụ tạo lại được chia thành ba bậc. Thiên thần là thụ tạo thuần linh, có trí khôn mà không có thân xác. Vật chất, cây cỏ, muông thú là thụ tạo hữu hình, không có lý trí.
Con người đứng giữa hai bậc này, vừa có thân xác vừa có linh hồn.
Nhưng con người không làm được như Thiên Chúa. Con người muốn làm ra bất cứ thứ gì, kể cả AI, thì cũng cần nguyên vật liệu và cần thiết kế (khuôn mẫu, hình thái). Ngay cả nhà thơ cũng cần nguyên liệu là ngôn ngữ.
Mọi thứ con người làm ra đều làm từ thụ tạo. Nói cách khác, con người không tạo dựng (creare), con người chế tác(facere). ( “Tạo dựng” dung riêng cho ý creare. Còn “sáng tạo” vẫn dùng theo nghĩa thông thường, tức là làm ra cái mới từ những gì có sẵn, vẫn là việc con người làm được.)
Bản thân con người là thụ tạo. Những gì con người làm ra là nhân tạo.
[Cũng xin nói thêm: nếu lập trường lệch hẳn sang Phiếm thần luận (Pantheism), đồng nhất Thượng Đế với Tự Nhiên thành một bản thể duy nhất (Deus sive Natura, công thức của Spinoza; substantia), thì ranh giới giữa tạo dựng và chế tác gần như biến mất, và ta đứng trong địa hạt của phiếm thần luận duy vật hay nhất nguyên (Materialistic / Monistic Pantheism). Từ lập trường ấy, người ta có thể lập luận rằng AI, cũng là một phần của Tự Nhiên, một ngày nào đó có thể có tinh thần (nous, mà Latin dịch là intellectus, trí hiểu) như con người, và rồi vượt qua con người. Các lập luận dưới đây không dựa vào lập trường này.]
Các giới hạn của AI
Giới hạn thứ nhất (giới hạn chung của mọi thứ nhân tạo, theo quan niệm Kinh viện). Con người không tạo ra chất thể, cũng không tạo ra quy luật vận hành của thế giới tự nhiên. Các quy luật ấy đúng một cách phổ quát trong toàn vũ trụ. Con người chỉ có khả năng hiểu ra những quy luật ấy (ví dụ thuyết tương đối) và tìm cách ứng dụng chúng (sắp xếp các nguyên lý để tạo ra sản phẩm nhân tạo, ví dụ năng lượng nguyên tử).
Theo Aristotle, “tự nhiên” (physis) là nguyên lý vận động nằm bên trong mỗi vật. Triết học Kinh viện (Scholasticism) đặt nguyên lý ấy nơi mô thể bản thể (forma substantialis, substantial form), tức cái làm cho một vật là vật thuộc loại của nó và vận hành theo loại ấy. Mô thể này hợp với chất thể (materia) thành một bản thể (substantia) duy nhất.
Con người không tự mình làm ra được chất thể, cũng không tự mình làm ra được mô thể bản thể. Điều con người làm được, như sẽ thấy ở giới hạn thứ hai, chỉ là tạo điều kiện để tự nhiên khơi mô thể ấy ra.
Giới hạn thứ hai. Bằng kỹ nghệ (ars) thuần túy, con người chỉ áp được ý chí (mong muốn) của mình lên vật liệu để làm ra mô thể phụ thể (forma accidentalis, accidental form), tức hình dáng hay trạng thái bên ngoài của một vật có sẵn, như bức tượng hay cái bàn.
Hoặc, trong một số trường hợp tinh vi và xuất chúng nhất, con người có thể khởi động và tác động để các nguyên lý tự nhiên tạo ra các nguyên nhân tự nhiên và đạt được kết quả tự nhiên. Ví dụ kim cương nhân tạo, không khác gì kim cương tự nhiên. Tuy nhiên ngay cả ở đây, chính Tự Nhiên ngầm vận hành để khơi ra mô thể bản thể (kim cương) từ chất thể; con người chỉ tạo điều kiện.
Có thể thấy tài năng của con người trong việc kích hoạt tự nhiên như vậy ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sinh học:
- Các nhà nông học lai giống lúa mới, chứ không thiết kế từ zero ra được một giống lúa hoàn toàn mới.
- Cừu Dolly (sinh năm 1996, công bố năm 1997) ra đời khi các nhà khoa học chuyển nhân của một tế bào tuyến vú từ cừu trưởng thành vào một trứng đã bỏ nhân. Phần còn lại do chính tế bào trứng tự làm: phân chia, biệt hóa, lớn thành con cừu.
- Sinh học tổng hợp (synthetic biology) đi xa hơn nữa. Năm 2010, nhóm của Craig Venter tổng hợp cả bộ gene của một vi khuẩn rồi cấy vào tế bào của loài khác đã bỏ bộ gene gốc. Nhưng tế bào nhận bộ gene ấy sống bằng bộ máy tự nhiên với các nguyên lý tự nhiên vốn có của nó.
Tuy nhiên cần lưu ý, những người theo chủ nghĩa duy vật không tư duy theo cách này. Họ cho rằng cứ tạo ra một hệ phức hợp (complexity) đủ tinh xảo thì ngay cả ý thức cũng tự xuất hiện (đột sinh, emergence), không cần nguyên lý nào ngoài vật chất.
Hai giới hạn trên chỉ có hiệu lực nếu ta chấp nhận quan niệm Kinh viện về mô thể. Người duy vật không chấp nhận, và với họ AI có thể vượt qua cả hai. Vì vậy ta cần tìm một giới hạn thứ ba, không dựa vào quan niệm ấy.
Giới hạn thứ ba.
Giới hạn thứ ba sâu hơn. Nó không nằm ở vật chất mà nằm trong lý trí thuần túy.
Đầu thế kỷ 20, David Hilbert muốn đặt toàn bộ toán học lên một hệ hình thức (formal system) hoàn hảo. Hệ ấy phải nhất quán (consistent): tức là hệ không bao giờ tự suy luận ra những cái mâu thuẫn với chính mình. Hệ ấy phải đầy đủ (complete), tức mọi “mệnh đề đúng” được phát biểu bên trong hệ đều phải chứng minh được. Hệ hoàn mỹ này được gọi là chương trình Hilbert (Hilbert’s program).
Thế nhưng chương trình này đổ vỡ khá nhanh. Năm 1931, Kurt Gödel công bố hai định lý bất toàn (incompleteness theorems).
- Định lý thứ nhất. Mọi hệ tiên đề hình thức nhất quán, đủ mạnh để diễn đạt số học, và có tiên đề liệt kê được hiệu quả (tức có thuật toán nhận ra tiên đề), đều chứa những mệnh đề không thể chứng minh được mà cũng không thể bác bỏ được (nếu đứng bên trong hệ để chứng minh hoặc bác bỏ).
(Mỗi hệ hình thức đủ mạnh để diễn đạt số học đều có những “điểm mù”. Sự thật (Truth) luôn rộng lớn hơn Khả năng chứng minh (Provability). Một hệ như vậy không thể tự chứng minh toàn bộ sự thật về chính nó. Lưu ý: những hệ yếu hơn, như logic mệnh đề hay số học Presburger, lại đầy đủ.)
- Định lý thứ hai. Một hệ tiên đề nhất quán, đủ mạnh và có tiên đề liệt kê được hiệu quả như trên, không tự chứng minh được tính nhất quán của chính nó từ bên trong.
(Để xác minh tính “không mâu thuẫn” của một hệ như vậy, ta bắt buộc phải bước ra bên ngoài hệ, dựa vào một hệ khác mạnh hơn hoặc dựa trên những nguyên lý khác (meta-system). Chẳng hạn, năm 1936 Gentzen chứng minh số học nhất quán nhờ quy nạp siêu hạn, một nguyên lý mà bản thân số học không tự chứng minh được.)
Tiếp tục đọc →
Bạn phải đăng nhập để bình luận.