Chừng hơn tuần nữa là kết thúc 2025, chúng ta dường như đã bước qua một thể chế mới, không phải thể chế dung hợp, hay loại trừ mà là hỗn hợp: mô hình Tập Cận Bình, phương pháp Putin và đường lối Park Chung Hee.
Điều ấy có tốt không, không ai biết, câu trả lời đúng nhất vẫn là câu sáo nhất: “thời gian sẽ trả lời”. Một câu trả lời khác, cũng sáo nốt, nhưng luôn đúng: “cái gì cũng có mặt nọ mặt kia”, “có tích cực và sẽ có tiêu cực”.
Khi anh Ba Duẩn quyết tâm thống nhất đất nước bằng bạo lực, anh bị chống đối quyết liệt, nhưng rồi vẫn làm được. Những quyết định khác, như đưa quân vào Cambodia dẹp Pol Pot, cũng bị phê phán suốt những năm sau khi anh í qua đời (và không thể tự mình biện hộ), thì ngày nay ngay cả phương Tây cũng có người cho rằng đấy là trang sử đen tối của chiến tranh lạnh, khi mà Việt Nam đi giết bọn diệt chủng, lại trở thành tội đồ, còn bọn hỗ trợ nuôi dưỡng bọn diệt chủng ấy lại trở thành đối tác lớn của Mỹ và được phương tây coi trọng.
Tương tự như vậy là các công trình lớn lao so với mặt bằng đương thời, như đường dây Bắc Nam 500KV của Võ Văn Kiệt, cũng bị chống đối kinh khủng, và có cả lãnh đạo phải vào tù. Hay gần đây hơn, ý tưởng của thủ tướng khi đó là Nguyễn Tấn Dũng là sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội bị chống đối công khai khắp nơi, cả ở quốc hội đến mức phải bấm nút biểu quyết mấy lần mới xong.
Các lý do, lập luận, lý lẽ vân vân được dùng để chống lại ý tưởng thống nhất Nam Bắc bằng bạo lực, chống việc đưa quân sang Cam, chống lại việc làm đường dây 500KV, chống lại sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội… nay đã thành các lý lẽ và biện luận rơi vào sọt rác của lịch sử. Đáng tiếc (hay không đáng tiếc), nhiều dự án lớn khác cũng có lúc bị dừng lại, như điện hạt nhân, đường sắt đô thị và đường sắt Bắc Nam.
*
Nhưng trước hết, xin phép nói một vài phút về Carl Jung:
“Xem xét căn tính Việt bằng lối tiếp cận “Vô thức tập thể” của Carl Jung
Ở Việt Nam khoảng hai chục năm nay mọi người nói nhiều, (cũng có lúc không nhiều) về căn tính Việt, bản sắc dân tộc Việt. Nhưng người Việt, xét như một tập thể và như một dân tộc cổ và không thuần chủng, làm bối rối ngay cả các chuyên gia ethology (tập tính học) giỏi nhất (giả sử Việt Nam có chuyên gia này).
Người Việt là giống loài hiếm hoi trên trái đất này tồn tại được là nhờ chất chứa trong lòng dân tộc chi chít các mâu thuẫn. Vừa hung hăng vừa hèn nhát, vừa dâm đãng vừa đạo mạo. Vừa ác tâm ác ý lại vừa thiện lành, vừa thích trật tự, tôn ti vừa bừa bãi sẵn sàng vi phạm mọi quy định. Vừa bất cần đời lại vừa ham sống sợ chết, vừa sùng bái học thức vừa lười nhác học hành. Vừa đam mê vật chất vừa khinh miệt tiền tài. Vừa muốn lương cao vừa lười lao động, vừa bi quan về đời vừa lạc quan tếu về mình. Vừa vô thần vừa mê tín. Vừa tiết hạnh khả phong vừa 10 phương phang cả.
Vừa mê Tàu vừa ghét Tàu. Vừa khệnh khạng bố đời với Lào với Cam vừa tự ti nhỏ mọn với Sing. Vừa huênh hoang với Thái, Indo, Malay vừa rón rén hâm mộ Nhật sùng bái Do Thái. Vừa ghét thực dân Pháp vừa mê mẩn văn hoá Paris và Thuộc Địa. Vừa căm thù đế quốc Mỹ vừa sùng bái đồng đô la Hoa Kỳ.
Vừa thích phản biện người khác, vừa ghét bị phản biện. Vừa khắt khe với người, vừa dễ dãi với mình. Vừa yêu nước nồng nàn vừa tìm cách tránh né nghĩa vụ quân sự.
Freud quen thuộc với Việt Nam nhưng chủ yếu là ở mảng xây dựng tính cách nhân vật trong sáng tác, và một vài ứng dụng đơn giản trong chẩn bệnh. Lacan gần như không ai quan tâm, dù rất hữu ích trong nghiên cứu ngôn ngữ, tự kỷ và các chứng hoang tưởng vĩ cuồng. Jung thì rất hợp VN, vì nó vận dụng rất nhiều thứ mà dân VN quen thuộc: huyền thoại, truyền thuyết và… lên đồng. (Freud là phân tâm học, còn Jung là tâm lý học phân tích, hai món khác nhau.)
Muốn hiểu căn tính Việt, sẽ phải nhìn vào vô thức tập thể (collective unconscious) của người Việt với vô số cổ mẫu (archetype). Trong số các cổ mẫu đó mới có 1 cổ mẫu được xác định là cổ mẫu Thánh Gióng (do mình tìm ra tầm hơn 15 năm trước).
Cổ mẫu Thánh Gióng ảnh hưởng rất lớn đến người Việt Sông Hồng. Đẻ ra chả cần nuôi gì, chả ăn mấy, cũng chẳng học hành rèn luyện gì, oạch phát vươn mình thành người khổng lồ đánh được cả giặc. Vãi. Vũ khí đánh giặc chả hiểu lấy công nghệ và vật liệu ở đâu ra mà rèn ngưạ rèn roi sắt như đúng rồi. (Lại còn tham nhũng dẫn đến ngựa rách bụng, roi sắt gãy, phải nhổ bụi tre đằng ngà đánh tiếp). Nói chung tất cả người Việt đều có cổ mẫu Thánh Gióng, chả muốn học hành rèn luyện gì, chỉ muốn đùng phát thành công to lớn ngay. Nên dân thì chăm mua vé số. Doanh nghiệp toàn chăm chăm ăn quẩn cối xay, khỉ vặt lông khỉ. Xong ông nào cũng chỉ nghĩ đến lúc mình thì về trời, còn thì mặc mẹ thiên hạ. Cổ mẫu Thánh Gióng sinh ra rất nhiều kiểu persona (nghĩa đen mặt nạ) khác nhau của tộc Việt.
Chắc chắn còn nhiều cổ mẫu nữa, trong đó có thể có (dự đoán): cổ mẫu Liễu Hạnh, cổ mẫu Thuỷ Tinh,… Và một số cổ mẫu thuộc loại The Shadow, mà sử dụng nó sẽ hiểu được tính bạo lực tập thể (đánh trộm chó hay tấn công online) của người Việt, và hiểu được cả các cơn lên đồng liên miên suốt từ U23 đá trên sân tuyết năm nào đến A80 vừa qua. (Nhưng đôi chỗ có thể cần thêm cả Lacan hehe, vì bạo lực online dùng ngôn ngữ là chính).
Jung nói chung khó, nhưng còn dễ hơn toán lý vì không có phương trình nào cả. Tự học được, vì nó toàn là chữ, nhưng rất mất công vì nền tảng rộng, riêng món “huyền thoại học” đã rất đau đầu rồi.
Jung có một thuận lợi với người Việt là nó có phần cảm hứng từ mạn-đà-la và kinh dịch (bát quái) nên dễ hấp thu. Thêm nữa, một phần nghiên cứu cổ mẫu là phải dựa vào nghiên cứu lên đồng, cái này thì VN hơi sẵn. Có điều mấy bà đồng fake cũng hơi nhiều, nên ko cẩn thận là ra kết quả sai.
Jung cũng hợp với VN vì nó có tính huyền học (mystical) và ngụy khoa học (pseudoscientific), là hai tính chất mà người Việt rất nhanh tiếp thu. Jung bản thân cũng là một người ngộ giáo (Gnosticism), cũng hợp với người Việt rất thích đốn ngộ, chẳng cần học hành gì mấy đùng cái vỡ vạc ra thành chuyên gia, học giả ngôi sao (cổ mẫu Thánh Gióng).
Jung có cái hay nữa là một mặt chung thuỷ với vợ, mặt khác Anima của ông lại là đa thê và lúc nào xung quanh ông cũng có các cô gái trẻ hâm mộ xoắn xuýt, đi hội thảo khoa học cũng đi với nhau. Cái này anh em nên học tập, làm khoa học phải có niềm vui.
Về cái mâu thuẫn khắt khe với người, dễ dãi với mình, là nguyên nhân khiến xã hội rất khó sống, sống thì rất mệt mỏi, dễ bùng nổ xung đột. Nếu có cách đổi ngược lại, sao cho khắt khe với mình, dễ với người, thì xã hội mềm mại, dễ sống hơn nhiều.”
*
Trong lý thuyết của Jung, các ý tưởng vĩ đại (grandiose idea) không xấu và cũng không tốt. Nguyên nhân của nó xuất phát từ “vô thức tập thể”, một năng lượng “vươn mình” rất lớn bị kìm nén vào trong vô thức của cả dân tộc, rồi bị thổi bùng lên (Thổi bùng Cổ mẫu/ Archetypal Inflation: “inflated” by powerful energies from the collective unconscious.) Cổ mẫu ở đây là cổ mẫu Thánh Gióng, cổ mẫu Trần Hưng Đạo, cổ mẫu Lê Thánh Tông (the Hero, the Savior, the King).
Các nhà lãnh đạo cận đại như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt hay Nguyễn Tấn Dũng [có thể] đều có các grandiose idea/vision (ý tưởng, tầm nhìn lớn lao) kiểu này. Họ không cố ý tạo những ý tưởng như vậy, lại càng không đi thuổng từ ai, mà nó được phóng chiếu từ trong nội giới (cái Tưởng/The Imagine) ra ngoại giới (cái Thực/The Real) do các nguồn năng lượng và lực đẩy cực mạnh từ “vô thức tập thể” (collective unconscious) của cộng đồng (thậm chí của cả dân tộc). Cái lớn lao ngoài đời lại xuất phát từ cái sâu thẳm vô thức bên trong. Các công trình khổng lồ của tập thể, đến từ sự suy tưởng của các cá nhân và khí chất bốc trời của họ.
Xin lưu ý, thay đổi dòng chảy lịch sử ở cấp độ quốc gia, châu lục không phải do các lực lượng tập thể (hoàng gia, hoàng triều, đảng phái, phong trào xã hội) mà do các cá nhân. Trong suốt lịch sử loài người, chính các cá nhân mới là người làm chuyển biến lịch sử. Xa xưa là Alexander Đại Đế, là Tần Thuỷ Hoàng Đế, là Thành Cát Tư Hãn, là Napoleon. Gần đây hơn nữa là Hitler, gần hơn nữa là Gorbachev, còn rất mới đây chính là Trump. Ở Việt Nam không thế không nhắc đến Hồ Chí Minh, ở bên kia bên giới là Mao Trạch Đông. Gần hơn nữa là Trường Chinh và bên kia là Đặng Tiểu Bình.
[Trường hợp Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt mình không nắm rõ, tuy anh Ba Duẩn mình có nghiên cứu. Nhưng mình tin chắc là anh Ba Duẩn có những khí chất (cá nhân) phi thường. Trong vài ngày là quy phục được Phạm Ngọc Thảo, ngay trong lúc yếu đến mức còn không đi được. Chỉ một đêm tranh luận ở rừng mà thu phục được kẻ được TW cử vào nắm miền Nam là Sáu Búa. Chỉ vài tuần nấp ở Huỳnh Khương Ninh (tên bây giờ) mà viết đề cương mà sau này làm thay đổi cả bán đảo Đông Dương. Người mà được cán bộ miền bắc lão thành phải thầm thì “Bác gọi con hổ miền Nam ra cai trị đám sói miền Bắc”. Đúng sai thiện ác không bàn, nhưng rõ ràng là anh hùng cái thế. Trường hợp anh Ba Dũng thì là đương đại, có nhiều thông tin để suy ngẫm hơn, và mình tin là gia đình dòng họ có ảnh hưởng rất nhiều đến tầm vóc, viễn kiến và hành động của anh. Nhiều người giải thích về anh Ba Dũng như kiểu “anh Hai Nam Bộ” đàng hoàng, hào sảng và bốc đồng. Có thể đúng, nhưng chưa đủ. Sâu xa hơn vẫn là vấn đề khí chất. Bên nội của anh Ba Dũng gốc Hà Tây, chứ không phải Nam Bộ, còn bên ngoại thì có những nhân vật tầm cỡ war lord chọc nước khuấy trời khét mù đồng bằng sông Cửu Long suốt thời đánh Pháp. Hay những người họ hàng nổi tiếng hiện nay của anh Ba Dũng như anh em nhà Johnny Trí Nguyễn, rồi Nguyễn Chánh Tín, họ có ngoại hình và khí chất khá là khác những người Việt khác.]
Khí chất “chọc trời khuấy nước”, ta có thể tham khảo bài thơ anh thanh niên Paul Ba Thành (Nguyễn Tất Thành) viết ở Luân Đôn năm 1914.
“Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng
Phải có kiên cường mới gọi hùng”
Đến năm 1945 người thanh niên ấy, lúc này tầm 54-56 tuổi, mới đến Hà Nội thủ phủ Đông Dương lần đầu tiên, và lên kỳ đài đọc Tuyên ngôn độc lập, đến năm 1954 mới thực sự có trong tay một nửa Việt Nam, và nếu sống thọ thêm bảy tám năm nữa, sẽ có cả giang sơn trước khi nhắm mắt.
*
Quay lại với ví dụ của một ý tưởng lớn từng bị chống đối, đó là Hà Nội. Từ góc độ quản trị vùng, chưa nói đến quản trị quốc gia, thì một thành phố bé tí rất khó xây dựng hạ tầng cứng. Hà Nội cũ quá bé để làm đường sắt đô thị kiểu hiện đại, lại càng không thể làm các đường vành đai với các ngả cao tốc nối đi muôn nơi. Việc mở rộng Hà Nội cho đủ lớn là tất yếu. Nhưng ý tưởng này vẫn bị chống cự kịch liệt.
Nhưng thời vươn mình lại khác. Việc Việt Nam muốn trở nên hùng cường, rõ ràng phải có những đô thị đủ lớn, đủ giàu, đủ đông, và từ đó mới có sức cạnh tranh với các đô thị khác trong khu vực (Bangkok, Thâm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu, Kuala Lumpur…). Thế nên việc sáp nhập Vũng Tàu và Bình Dương vào HCMC là đương nhiên. Và cũng phải đủ to như thế thì mới làm hạ tầng cứng (sân bay, cảng, đường sắt đô thị, đường vành đai) hiệu quả được. Lần này không còn chống đối, việc sắp xếp lại giang sơn xoẹt phát là xong.
Nhiều thành phố quan trọng trên thế giới đều quay mặt ra sông. Sài Gòn và Huế cũng quay mặt ra sông. Chỉ có Hà Nội quay mặt vào Hồ Gươm bé tí hin và chổng đít ra sông Hồng. Chổng đít ra nên sông lúc nào cũng bẩn. Cho nên việc “xoay mặt thành phố ra sông” sẽ là tất yếu, và chắc chắn sẽ không có ai cản nổi dự án sông Hồng. Cũng như thế là thành phố Hồ Chí Minh sẽ phải quay mặt tiền ra biển.
*
Người ta vẫn nói dân nào chế độ ấy. Không biết có đúng không, nhưng dân thái độ thế nào, thì chấp pháp của chế độ sẽ càng thế ấy.
Anh Ba Dũng ngày xưa có quyết định ai tham gia giao thông bằng xe máy là phải đội mũ bảo hiểm. Thế mà cũng bị chống đối, bị công khai chế diễu (báo Tuổi Trẻ Cười thì phải còn có cả tranh biếm hoạ). Giao thông Việt Nam, nhất là Hà Nội là bựa nhất hành tinh. Thế mà từ ngày phạt vi phạm giao thông xiết lại, phạt nặng đến mức đau hơn hoạn, tự nhiên nhân dân đi đường tử tế hẳn. Nhưng vẫn chưa tử tế lắm. Đến khi các cảnh sát số (camera AI) xuất hiện, xe cộ đi lại ngăn nắp như trẻ con xếp hàng chào cờ sân trường. Hoá ra người ta ngoan ngoãn chỉnh tề không phải vì ý thức giao thông, tôn trọng cộng đồng và tuân thủ luật pháp. Mà họ chỉ ngoan vì sợ công an. Nên công an dù không muốn, sẽ phải thay mặt nhà nước đứng ra trị dân hehe. Nhưng dân (HN) có bớt bát nháo đi không, đô thị (HN) có bớt nhôm nhoam đi không, cũng vẫn phải đợi thời gian trả lời.
Có một cách giải thích rất hay về ứng xử của người dân Nga (nhất là dân các thành phố lớn như Moscow hay Saint Petersburg) với chế độ Putin. Đó là họ ngầm (và không có lựa chọn nào khác) phải “ký” một social contract với nhà nước của Putin, theo đó họ sẽ hy sinh bớt quyền con người, quyền cá nhân… để đổi lấy cuộc sống tương đối dễ chịu, thoải mái (năng lượng, nước sạch, y tế, giáo dục… giá rẻ hoặc miễn phí, đường phố sạch sẽ ngăn nắp an toàn, truyền hình toàn nội dung nhân văn ái quốc…).
*
Kỷ nguyên mới của tổng bí thư Tô Lâm về bản chất chính là thay đổi hoàn toàn thể chế (theo nghĩa cơ chế và luật vận hành.) Hàng loạt công trình khổng lồ hôm qua đồng loạt khởi công. Ở kỷ nguyên cũ thì 100% các dự án ấy không thể khởi công được vì vướng thủ tục hành chính, pháp lý, và cuối cùng là đền bù giải phóng mặt bằng. Thế mà hôm qua khởi công một phát ăn ngay. (Thể chế cũ, đặc biệt là thời đốt lò, về bản chất là kìm hãm sự phát triển của Việt Nam chậm đi khoảng 20 năm, cho nên việc thể chế mới cho khởi công đồng loạt như vậy là tín hiệu nên mừng, hơn là nên lo.)
Vấn đề không còn là giải phóng mặt bằng. Sau Đồng Tâm bằng súng, mới đây là Bờ Hồ bằng tiền và Đê La Thành bằng luật pháp, tiền và cảnh sát cơ động thì việc giải toả giờ chỉ phải gọi xe ủi máy xúc là xong. Công lao này thuộc về tổng bí thư quá cố, tức là anh Trọng. Tổng bí thư Trọng đã đưa bạo lực cách mạng trở lại để giải quyết xung đột nhà nước và nhân dân, thẳng tay thủ tiêu xã hội dân sự còn non nớt, và dọn đường để đưa chế độ đảng trị thành công an trị. Trong kỷ nguyên mới, thể chế mới này, mọi grandiose idea/design/plan nay chỉ cần một ý chí. Ý chí đầu tiên chính là sắp xếp lại giang sơn, tinh gọn bộ máy. (Tuy nhiên, các buzzword như tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, nhà nước kiến tạo, xã hội dân sự … đều xuất phát từ các diễn văn của thủ tướng Ba Dũng.)
Tư duy và cách thức triển khai các công trình khủng cũng không còn như xưa. Các công trình khổng lồ không còn do nhà nước bỏ tiền ra làm mà sẽ là tư nhân. Đây là một tư duy và một cách thực hành kinh tế chính trị hoàn toàn mới (so với Việt Nam).
Các đại gia vốn “hàng chục năm kiếm chác từ nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam với đầy rẫy kẽ hở luật pháp” đến lúc phải mang vốn và công nghệ ra cốp vào các dự án mà ý chí nhà nước và giới cầm quyền muốn thực hiện, bất kể đó là sân bay, đường sắt, cảng biển hay trục sông Hồng. Tất nhiên những đại gia cánh hẩu xưa nay biết điều và quen chơi đẹp vẫn vào chỗ ngon, còn chỗ xương mời các anh siêu giàu mà bao lâu nay khôn lỏi. Còn bọn nhà giàu vớ vẩn, xác này xác nọ, chúa tể chốt đơn nọ kia, quan chức tham nhũng mà không có bệ đỡ, tất thảy đều vào nhà đá còn tài sản đều bị tịch thu vào ngân sách, hoặc đâu đó gần ngân sách (rồi sớm muộn cũng sẽ chảy vào các siêu dự án, qua ngả này hay ngả khác, đây cũng là điểm mới của kỷ nguyên mới, khi mà dòng chảy của tiền ra nước ngoài để kiếm chỗ sinh lời, kể cả chơi coin, không còn dễ nữa.)
Cách làm này có thành công không, không ai dám chắc, vẫn phải đợi thời gian trả lời. Nhưng so với 10 hay 20 năm trước mọi sự đã dễ hơn nhiều.
Từ lúc Việt Nam mở cửa đến quãng những năm 2000, thì toàn bộ công nghệ từ xe hơi, máy tính, điện tử gia dụng đến các công nghệ quản trị sản xuất, quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, quản trị thể thao đều nằm ở các nước phương Tây (bao gồm Nhật Bản). Nhưng hiện nay rất nhiều công nghệ quan trọng, từ hạt nhân đến bán hàng online, từ công nghệ điện thoại thông minh đến công nghệ biểu diễn… thì lân bang của Việt Nam như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan đều có cả. Các công ty như Masan, Thaco,… đều đã quen với việc làm chủ công nghệ quản trị sản xuất, quản trị kinh doanh, quản trị trí tuệ công nghiệp, quản trị talent (nhân sự cao cấp). Những gì mà xưa nay Mỹ là bậc thầy muôn trượng, nay ta cũng hơi hơi có.
Tương tự như vậy là dòng vốn, ngày xưa vốn tư bản là từ các nước tư bản, còn nay nguồn vốn có thể là TQ, Trung Đông, thậm chí từ Nga. Mà vốn nào vào VN cũng là vốn, kể cả vốn Trung Đông, mafia Nga hay Tài phiệt Đỏ Thượng Hải. Cá vào ao ta là cá nhà ta. (Cho nên việc delay, dù là cưỡng bức, các dự án lớn như điện hạt nhân, đường sắt Bắc Nam, đường sắt đô thị… có thể lại là may mắn lớn.)
*
Trong những thời khắc khó khăn, nhất là chiến tranh, các lãnh đạo quốc gia đi được xa nhất thường là những người theo realism. Với Tây thì cái này hơi dị, chứ đọc sử tàu thì đa phần vua đều là realist cả. Vấn đề là, một người lãnh đạo realist, họ có nhìn được thực tế real không, hay họ nhìn thấy cái unrealistic. Câu trả lời vẫn phải đợi thời gian.
Tuy nhiên kiến thức cho chúng ta biết các công trình khủng long mới đồng loạt khởi công đều là hạ tầng, và bất động sản. Không có mấy dự án sản xuất và xuất khẩu. Cũng không có dự án công nghệ cao. Một lượng vốn khổng lồ sẽ được giải ngân, vô số công ăn việc làm sẽ được tạo ra, GDP chắc chắn lên 2 con số. Nhưng tính lan toả và phân phối thu nhập sẽ là câu hỏi lớn. Và câu trả lời sẽ phụ thuộc realistic hay unrealistic. Mà cái realistic nhất cần phải công nhận, đó là kinh tế (lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá, năng suất lao động,…) không nghe theo hiệu lệnh công an.
Còn mỗi cá nhân người dân, như chúng ta, việc giữ standpoint thật là realist để nhìn vào những chuyển biến xung quanh, là rất quan trọng. Chắc chắn anh Tô sẽ tiếp tục là người cầm lái. Chắc chắn trong tương lai gần không có nhóm xã hội nào dù đông đến đâu có đủ sức chống lại công an. Lại càng không có lực lượng xã hội nào thách thức được đảng và chính quyền do đảng chi phối đến từng hơi thở. Nhìn ra bên ngoài, Việt Nam vẫn tiếp tục phải dựa vào Tàu, đồng thời ngả ngớn với Mỹ Nhật Anh Pháp Úc Đài Loan, và rồi cũng không dám ngoảnh đít với nước Nga của Putin. Đó là tất cả những gì real, trên đất nước này, mỗi ngày, trong rất nhiều năm nữa. Mọi huyễn tưởng, ảo mộng, mơ màng, đều sẽ dẫn đến tai hoạ.
*
Harold Ross, người sáng lập và chủ bút đầu tiên của The New Yorker, có nói một câu nổi tiếng: “This thing is a movement and you can’t resign from movement”.
Vậy là vẫn phải cày cuốc thôi.
Về thuyết của Jung, xem thêm: Panopticon: Viên hình giám ngục
Về thuyết thế hệ của Strauss–Howe xem thêm: Thuyết thế hệ

Bạn phải đăng nhập để bình luận.