Nhân sự trong vỏ hạt dẻ

Trong cuốn sách Freakonomics của nhà kinh tế Steven Levitt có một trường hợp nghiên cứu khá thú vị. Có một năm tự nhiên tỷ lệ tội phạm dùng súng ở Hoa Kỳ giảm toẹt xuống. Bất ngờ quá, người ta đi tìm nguyên nhân. Các nguyên nhân được tính đến, từ nâng chất lượng lực lượng cảnh sát đến các đạo luật kiểm soát vũ khí cá nhân, đều được xem xét. Mà hóa ra đều không phải. Tỷ lệ tội phạm giảm đột ngột, là do cách đấy mấy chục năm Mỹ cho phép phụ nữ phá thai. Nhờ phá thai mà các đứa trẻ lẽ ra phải sinh ra trong hoàn cảnh ngặt nghèo khó nuôi dạy nên người, đã không phải ra đời nữa. Từ lúc đạo luật được thực thi đến lúc nó  có tác dụng xã hội, mất mấy chục năm, và khi nó có tác dụng thì rất bất ngờ, cả ở thời điểm lẫn kết quả.

Trong những năm 1945-1953, Việt Minh tiễu trữ tảo thanh các phần tử đối lập nổi bật rất mạnh tay. Nên đến năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gặp các vấn đề thiếu hụt nhân sự lãnh đạo cao cấp để lắp vào chính quyền mới. Ngô Đình Nhu buộc phải dùng những người giỏi hiếm hoi mà chính phủ tuyển dụng được vào cùng lúc nhiều chức vụ khác nhau trong nội các. Ở chính quyền địa phương, cả Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu buộc phải sử dụng lại công chức cũ thời thực dân, thậm chí có dính đến tận phong kiến. Mà hồi đó “đả thực phản phong” rất mạnh. Đến năm 1960 thì vấn đề nhân sự yếu kém của chế độ đệ nhất VNCH bộc lộ nhược điểm nặng nề. Nay nhìn lại, thấy cả tình báo miền bắc len vào (chưa kể tình báo các nước khác mà ta không biết). Chính quyền đệ nhất VNCH có những bộ óc rất tốt ở cấp cao, nhưng bộ sậu nội các, chính quyền địa phương và đặc biệt là quân sự rất yếu kém. Và nó sụp đổ rất nhanh chỉ trong vòng khoảng ba năm dưới các loại sức ép.

Chưa hết, nhân sự của phe đảo chính lại còn yếu kém hơn nữa. Chính các trí thức am hiểu thời sự miền nam, sau này còn than là các nhà lãnh đạo quốc gia (VNCH) sau 1963 toàn là chính trị gia tép riu.  Sau đảo chính, chính trường miền nam phải mất tới mấy năm để bình ổn bộ máy (1963-1966), phải sử dụng lại cả các chính trị gia đã hết thời. Nhưng rồi sau đó, sự yếu kém, tham lam của hệ thống lãnh đạo nhanh chóng gây ra các vấn đề trầm trọng và làm sụp đổ toàn bộ hệ thống chỉ trong vòng chưa đến mười năm (1975). Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , | 9 bình luận

Chuyện hai cầu

Trong ảnh này có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có Hai Cau The Hucvẻ trang trọng.

Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ , , , , , , | 1 bình luận

Trong vỏ hạt dẻ (tiếp và hết)

Sài Gòn 1945 TNTP Olympic Salute

Sau Cách Mạng Tháng Tám, lực lượng Thanh Niên Tiền Phong của Phạm Ngọc Thạch (có vũ trang) bị giải giáp. Cùng với Thanh Niên Niền Tuyến của Phan Anh ở ngoài bắc, Thanh Niên Tiền Phong ở trong Nam rất mạnh. Trong ảnh là lực lược TNTP năm 1945. Họ sử dụng lối chào Olympic Salute, vốn khá phổ biến ở thế giới trước năm 1942, và vẫn còn được sử dụng ở Đông Dương thời Vichy. Bởi vậy kiểu chào này gây nhầm lẫn lực lượng của Phạm Ngọc Thạch có xu hướng Phát Xít. Ngay cả Nolde, mật thám Phòng Nhì, cũng cho như vậy (lúc này Nhật cai trị Đông Dương). Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển, sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | 13 bình luận

Trong vỏ hạt dẻ

Năm 1940.

Vào năm này chính quyền Vichy ở Pháp thân phe trục (phát xít), các nhân viên ngoại giao của Pháp ở Tokyo đạt được thỏa thuận với chính quyền quân phiệt Nhật, qua đó chính quyền Đông Dương thuộc Pháp “tề” Nhật. Người Nhật, sau khi thoát khỏi cái bóng khổng lồ của ý thức hệ Trung Hoa, đã tự mình phương tây hóa, tự chủ, lớn mạnh và thắng luôn cái bóng đen khổng lồ Trung Hoa (chiến tranh Trung Nhật Giáp Ngọ 1894-1895), thắng quân đội Nga (1904-1905), chiếm toàn bộ Triều Tiên, rồi chiếm toàn bộ Trung Hoa (1937-1945) và ở thời điểm Pháp ở Đông Dương (Indochina) tề Nhật (1940) thì Nhật đã chiếm Đông Nam Á.

Indochina rất quan trọng. Người Nhật dùng phía bắc (Đàng Ngoài, Đông Kinh = Tonkin) để làm hậu cần cho quân đội Nhật ở Quảng Tây và Vân Nam thông qua cảng Hải Phòng và đường bộ đi tới Lạng Sơn. Họ dùng phía nam (Đàng Trong = Cochinchina) để làm căn cứ hải quân và không quân . Lúc này quân đồng minh (Hoa Kỳ) đã có các hoạt động quân sự ở quanh Hà Nội và Hải Phòng, quân Nhật đã bị máy bay Mỹ ném bom.

Trong một quãng thời gian rất ngắn ở thời điểm Pháp Nhật đang thỏa thuận, ngày 22.9.1940 quân đội Nhật cùng một nhóm quân vũ trang người Việt và người Hoa (Kiến quốc quân, thuộc Việt Nam Phục Quốc Quân của Hoàng Thân Cường Để) tiến từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Đồng Đăng, đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp rút chạy, rồi sau đó quân Nhật cũng rút trở lại qua biên giới. Kiến quốc quân và chỉ huy Trần Trung Lập ở lại chiến đấu, sau bị Pháp bắt và xử bắn ở Lạng Sơn. Cũng nhân biến cố này, các tù nhân của Đảng cộng sản Đông dương được Nhật thả ra từ nhà tù Lạng Sơn khởi nghĩa. Ngay sau đó Chu Văn Tấn được Hoàng Văn Thụ điều xuống nắm quyền. Cuộc khởi nghĩa này, chính là khởi nghĩa Bắc Sơn, bị Pháp quay lại dẹp rất nhanh.

Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy ủy ban khởi nghĩa đã thử nghiệm được mô hình chính quyền khởi nghĩa sau này được Việt Minh áp dụng khắp nơi trước khi chiến tranh Pháp -Việt (chiến tranh Đông Dương) nổ ra. Trong các thử nghiệm ấy có cả đánh du kích, phá hoại và tảo thanh (giết những người mà họ khép vào tội Việt gian). Chu Văn Tấn sau trở thành Bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng Tám. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển, sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | 15 bình luận

Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Dạo này nhiều bạn viết review sách quá, mình cũng tập tọng viết thử xem sao. Bài này viết xong, gửi cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần, may quá đã được đăng số tuần vừa rồi.

Cai trị là dựa vào số đông

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng quân sự, thừa tướng Lý Tư đã tận sức giúp vua tạo dựng đế chế bằng sự thống nhất về chính trị và tư tưởng. Học thuyết mà Lý Tư ứng dụng trong trị quốc phần lớn dựa vào tư tưởng và trước tác của một người bạn, sau trở thành kẻ đối nghịch là công tử nước Hàn: Hàn Phi.

Hàn Phi và Lý Tư cùng là học trò của Tuân Tử. Hàn Phi bị Lý Tư, người tự nhận là kém tài hơn, gièm pha đến mức bị vua Tần bỏ tù và sau đó chết trong ngục. Trước tác mang tên ông, sau này được nhà Tần áp dụng triệt để trong trị quốc và trở thành kinh điển của pháp gia.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản dịch mới cuốn Quân Vương của Machiavelli

Luận văn của ông Nhu

Dưới đây là bản tóm tắt luận văn tốt nghiệp trường École Nationale des Chartes năm 1938 của Ngô Đình Nhu (1910-1963). Luận văn này có tên “Les moeurs et les coutumes des Annamites du Tonkin au xviie siècle”. Quốc Anh bạn tôi đang dạy học ở Sciences Po đã bớt thời gian gõ đầu trí thức Pháp mà vào thư viện lục lọi và gửi về. Bạn Khiếu Anh cũng đã bớt thời gian đi học để dịch bản luận văn này qua tiếng Việt với tên “Những phong tục và tập quán của người An Nam ở Đằng Ngoài thế kỷ XVII”.

Nhưng trước hết là một chút thông tin về tác giả bản luận văn.

Tiếp tục đọc
Đăng tải tại sách | Thẻ , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | 17 bình luận

Từ chuyện Trại trở về chuyện Hồng Bàng

Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.

“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.

Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.

Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:

“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh

Lại thi thái-học chư-sinh,

Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.

Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, đoạn nói về thi cử (1256) thời Trần Thái Tông có đoạn: “Hồi quốc sơ, cử người chưa phân kinh trại, người đỗ đầu ban cho danh hiệu Trạng nguyên. Đến nay chia Thanh Hóa, Nghệ An làm trại, cho nên có phân biệt kinh trại”.

Người Kinh trong câu trên  là để chỉ dân sống ở vùng đất thấp gần các trung tâm văn minh (đồng bằng và các thung lũng sông Hồng, sông Mã). Người Trại là chỉ người vùng cao, mà không phải là người dân tộc, có thể là vì họ ở nhà vách mái lá và ăn cơm như người Kinh, nhưng lại nói ngôn ngữ khác (tiếng địa phương khác).

Tiếp tục đọc
Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 8 bình luận

Tự do học tập

Gần đây ta nghe nói nhiều đến “tự do đại học”.

Nghe quen mà lạ.

Quen là vì bản chất của giáo dục là để khai mở trí óc, phóng khoáng tinh thần cho mỗi cá nhân. Dạy và học là một cái gì đó cứ như là lẽ tự nhiên, bởi thiên nhiên tạo ra con người khác với sinh vật khác ở chỗ nó biết dạy và biết học. Mà tự nhiên thì đương nhiên là tự do và cởi mở.

Lạ là vì cái lẽ tự nhiên ấy chỉ có được ở một xã hội dân sự, là nơi mà chính trị phải dừng bước trước ngưỡng cửa học đường, bởi xã hội dân sự chưa từng và sẽ không chấp nhận chính trị can thiệp vào việc dạy và học. Đương nhiên, khi đã quá quen với một xã hội mà ở đó ruling class sử dụng giáo dục chỉ để đào tạo ra những cá nhân phục vụ và bảo vệ chế độ, thay vì để phụng sự xã hội và xây dựng tổ quốc, thì tự do học tập là cái gì đó quá ư xa lạ.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển, đời | Thẻ | 1 bình luận

Chính luận vắn

Để nước Việt hùng cường phải làm được hai việc.

Một là Chính-phủ nhỏ và Quân-đội mạnh

Hai là Dân-chúng tự bảo ban nhau học tập lao động trong một Xã-hội cởi mở khoan dung.

Chính phủ hiện ôm đồm quá nhiều, bộ máy cồng kềnh, chi phí lớn, hiệu quả thấp. Các tập đoàn nhà nước phải bán cho tư bản nước ngoài. Điều kiện duy nhất là họ phải đến từ các nước không có chung biên giới với nước Việt. Ưu tiên Nhật, Mỹ, Châu Âu.  Ngành dịch vụ bán trước, hạ tầng bán sau. Tài nguyên không được bán. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển | Thẻ | 3 bình luận

Triết học của rởm rít

Đại ca Aristotle là một tay tổ. Có lần đại ca bảo: cái đếch gì sinh ra ở cõi trần thì đều sinh ra vì mục đích nào đó. Ví dụ con người sinh ra (dưới cõi trần này) là để sống hạnh phúc. Mở ngoặc: cõi trần cũng là khái niệm mà Aristotle là người đầu tiên đặt ra.

Dưới đây là câu chuyện triết học ở cõi trần có tên Vina.

Cái triết lý nói trên của Aristotle được ứng dụng khắp nơi, ví như: cái gì xảy ra thì cũng phải có nguyên do.

Kiểu như anh Nhân đi học ở bển về, lên đến phó thủ, thì nguyên do của việc này là có rất nhiều gà ở Bắc Giang cần gắn chip mà chưa có ai đề xuất, nên cần có anh Nhân. Anh Nhân cần đi học cũng như gà đi bộ cần gắn chip vậy. Aristotle hẳn rất hài lòng.

Xã hội nào cũng có sự chia rẽ, bởi loài người sinh ra là để sống cô độc, càng văn minh thì con người lại càng suy thoái đạo đức (bộ phận không nhỏ), họ căm ghét nhau, xung đột quyền lợi, và tất nhiên là chia phe ném đá nhau. Cái này là do thiên tài Khai sáng Jean Jacques Rousseau viết ra.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại đời | Thẻ | 7 bình luận