Trong chỉ thị của Ban Bí Thư do Trường-chinh ký ngày 5 tháng 12 năm 1953 về việc giảm tô vùng “dân tộc thiểu số ở lẫn với người Kinh” có nhắc đến người Trại.
“Ngoài người Kinh, ở các xã trên đây còn có các dân tộc Nùng, Thổ, Trại, Mán, Hoa kiều, có xã có một số đồng bào Thái Sơn La tản cư đến. Giữa người Kinh và dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau, hoặc nhiều hoặc ít, đều có xích mích và mâu thuẫn”. Các xã nói đến ở đây là 40 xã ở Thái Nguyên và Bắc Giang.
Đọc giật mình. Vì người Trại (Thanh Nghệ) sao lại ở vùng này. Sau mới hiểu ra người Trại ở đây là chỉ người Sán Dìu (Sơn Dao Nhân), một nhóm thiểu số thuộc nhóm Hoa (nói và viết tiếng Hoa). Người Sán Dìu còn được gọi là người Trại hay người Trại đất. Có thể là vì họ ở không ở nhà sàn mà ở nhà (vách) đất mái tranh, trồng lúa và ăn cơm ăn cháo.
Trong Đại nam quốc sử diễn ca (tên đã thấy tác phẩm thuộc thời nhà Nguyễn) có câu sau nói về thi cử thời nhà Trần:
“Kẻ kinh, người trại cũng là tài danh
Lại thi thái-học chư-sinh,
Lại thi tam-giáo chia rành ba khoa”.
Người Trại ở đây chỉ dân Thanh Nghệ.
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, đoạn nói về thi cử (1256) thời Trần Thái Tông có đoạn: “Hồi quốc sơ, cử người chưa phân kinh trại, người đỗ đầu ban cho danh hiệu Trạng nguyên. Đến nay chia Thanh Hóa, Nghệ An làm trại, cho nên có phân biệt kinh trại”.
Người Kinh trong câu trên là để chỉ dân sống ở vùng đất thấp gần các trung tâm văn minh (đồng bằng và các thung lũng sông Hồng, sông Mã). Người Trại là chỉ người vùng cao, mà không phải là người dân tộc, có thể là vì họ ở nhà vách mái lá và ăn cơm như người Kinh, nhưng lại nói ngôn ngữ khác (tiếng địa phương khác).
Tiếp tục đọc
Bạn phải đăng nhập để bình luận.