Ai chủ mưu?

I. Bí ẩn vụ ám sát Vạn Thắng Vương.

II. Ai là sát thủ?

III. Ai chủ mưu?

Kể từ thời Hai Bà Trưng đến thời Ngô Quyền, nước ta chủ yếu sống dưới sự cai trị của người Tàu. Cọ xát văn hóa Đông Sơn và văn hóa Trung Hoa chỉ xảy ra ở giới cầm quyền và các giới liên quan. Văn hóa thuần Việt mang tính làng xã và dòng họ vẫn lặng lẽ phát triển ở các vùng dân đen. Cho đến thời Khúc Thừa Dụ và Dương Đình Nghệ thì các dòng họ đã phát triển thành các lực lượng cát cứ mạnh mẽ mà đứng đầu là các hào trưởng.

Hào trưởng có vai trò vừa là người đứng đầu dòng họ, vừa là thủ lĩnh cả vùng. Hào trưởng chỉ huy sản xuất cho tất cả các hộ sống trong lãnh địa của mình, phân phối thu nhập, tổ chức lực lượng chiến đấu. Các hào trưởng lớn, có lực lượng sản xuất mạnh, còn kết nạp thêm nhiều tráng sỹ giỏi từ các vùng xa kéo đến. Tuy nhiên, cho dù có kết nạp thêm bao nhiêu người giỏi, mở rộng lãnh địa đến đâu, thì quyền lực vẫn tập trung trong tay hào trưởng, các con trai, và các bà vợ của ông ta. Nôm na là một kiểu gia đình tập quyền.

Cách duy nhất để có thể được gia đình đấy chia sẻ quyền lực thì phải lọt vào gia đình đấy một cách chính thống. Tức là phải cưới một ai đó trong gia đình của hào trưởng.

Ngô Quyền, vị vua đầu tiên của Việt nam, xuất thân chỉ là tráng sỹ nghèo, đã phải đầu tư vào trym và làm rể một hào trưởng lộng lẫy nhất hồi đó là Dương Đình Nghệ. Dương Đình Nghệ là người đã đánh tan quân Nam Hán và dành quyền tự chủ về tay người Việt, nhưng không xưng vương. Ông là người Việt Nam đầu tiên vùng lên đánh lại ách nô lệ mà thành công, chiếm được thủ phủ của chính quyền trung ương.

Sau này ông bị làm phản và bị giết. Kẻ giết ông là một nha tướng tên là Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn là nhân vật lịch sử đầu tiên của chúng ta bị buộc tội cõng rắn cắn gà nhà. Ông ta đã rước quân Nam Hán về đánh nhau với đồng bào mình. Mẫu hình rước voi về giày mả tổ như Kiều Công Tiễn còn lặp lại khá nhiều trong các thời kỳ lịch sử sau này.

Con rể của Dương Đình Nghê là Ngô Quyền sau đó tranh giành quyền lực với các con trai của Dương Đình Nghệ. Kết cục là quyền bính về tay Ngô Quyền hết. Sau chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt, Ngô Quyền và vương triều của ông đặt nền móng cho nước Việt độc lập về sau này. Tuy nhiên thời kỳ đầu vương triều đấy còn hoạt động thô sơ, vẫn ảnh hưởng của văn hóa gia tộc cát cứ, phạm vi ảnh hưởng nhỏ hẹp. Mãi đến nhà Lý thì triều đình và các cải cách hành chính, kinh tế, quân sự, mới thực sự là một nhà nước phong kiến.

Bên cạnh sự phát triển hoành tráng của Ngô Quyền thì dòng họ Dương mạnh mẽ một thời nay bị tay con rể qua mặt, đành âm thầm ôm hận chờ ngày phục họ.

Sau khi Ngô Quyền mất, họ Dương được uỷ thác làm chấp chính. Dương Tam Kha nhân cơ hội lật đổ con cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, tự mình lên làm vua, nhưng vẫn nuôi con thứ của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn. Sau Ngô Xương Văn lớn lên, có đủ lông cánh, lại lật lại phát nữa để lên làm vua. Tuy nhiên Ngô Xương Văn không giết Dương Tam Kha vì đã có công nuôi dưỡng.

Sau khi Ngô Xương Văn chết thì xảy ra loạn 12 Sứ Quân. Sau đó Đinh Bộ Đĩnh lần lượt đánh thắng và thôn tính hết 12 Sứ Quân này và lên làm vua.

Nếu để ý sẽ thấy Đinh Bộ Lĩnh ngoài tài cầm quân còn rất mưu kế trong việc sáp nhập lực lượng. Thủa đầu chỉ có hai cha con Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn. Sau Đinh Bộ Lĩnh lấy con gái Trần Minh Công để thôn tính lực lượng của dòng họ này vào tay mình. Từ lực lượng này ông phát triển quân đội của mình lên để đi đánh nhau. Sau đó ông lấy Dương Vân Nga để sáp nhập luôn vây cánh nhà họ Dương.

Trong 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đánh thắng một số, một số tự tan, một số quy hàng, một số được sáp nhập. Trong số sáp nhập có cánh quân của sứ quân Ngô Nhật Khánh. Sứ quân Ngô Nhật Khánh được ghi là con cháu Ngô vương nên khả năng mẹ của Nhật Khánh là vợ của ai đó trong dòng dõi vua Ngô (có chỗ nói là vợ bé của Ngô Xương Văn). Để thôn tính cánh quân Ngô Nhật Khánh, Đinh Bộ Lĩnh đã lấy luôn mẹ của Ngô Nhật Khánh làm vợ (cái này sử cũng ghi là vua Đinh “lấy mẹ Nhật Khánh”).

Bà này về sau sinh ra Đinh Hạng Lang. Còn Ngô Nhật Khánh là anh cùng mẹ khác cha với Đinh Hạng Lang.

Việc Đinh Tiên Hoàng thay vì thôn tính cánh quân Ngô Nhật Khánh bằng quân sự, ông đã thôn tính bằng bịên pháp hôn nhân. Điều này đã gây ra một đống tai họa về sau.

Ngô Nhật Khánh đâu phải người hiền lành gì. Thế lực của Khánh hơi bị mạnh. Tuy về với nhà Đinh nhưng lực lượng vẫn cài cắm ở khắp nơi. Trong triều đình thì Khánh có mẹ là hoàng hậu, lại có em là con trai vua. Khánh ra vào cung vua dễ như đi chợ. Lại là con nhà dòng dõi nên thu phục nhân tâm trong triều không phải việc khó. Lại là người lớn tuổi hiểu biết, Khánh cũng biết một ngày nào đó có cơ hội lên làm vua thì cũng phải dựa vào ngoại bang để có lực lượng quân sự. Do nhà Tống rất thân thiết với Đinh Liễn nên Khánh chỉ có cách duy nhất là lén đi lại với quân Chiêm Thành.

Động tác đầu tiên trong chiến dịch cướp quyền của Khánh là cùng với mẹ lúc mật lúc ngọt ép vua Đinh phong Hạng Lang (mới có vài tuổi) làm thái tử. Nếu Hạng Lang làm thái tử, vua Đinh chẳng may chết thì chắc chắn mẹ Hạng Lang lên Thái Hậu còn Nhật Khánh nhắm chắc chức phó vương.

Ai ngờ mưu này bị Đinh Liễn đọc vị hết. Nhưng Đinh Liễn chưa kịp can ngăn vua cha thì sau một cơn mây mưa mặn nồng mà lâu lâu mới có (tại già rồi), vua Đinh phong cho Hạng Lang làm thái tử.

Đinh Liễn vốn tài giỏi, nhìn xa trông rộng, nhận ra ngay sự nguy hiểm của vấn đề. Không còn cách nào khác, Liễn phải xuống tay giết em. Nhận cái tiếng xấu về mình mà cứu đại cục.

Dân Việt thủa đó vốn chưa biết đến các kiến thức giáo điều của Nho Khổng nhảm nhí, thường lấy chính nghĩa để xét sự việc, nên không kết tội Đinh Liễn nhiều. Ngay cả vua Đinh cũng không trừng phạt Đinh Liễn. Mặc dù vậy, để sám hối, Đinh Liễn đã dựng hàng trăm cây cột trên đó có khắc kinh phật bằng tiếng Phạn và sử dụng nhiều câu chú Đà La Ni.

Còn Ngô Nhật Khánh thấy mưu to đã hỏng liền chuyển qua mưu nhỏ. Vốn trong triều lúc đó có viên nội quan tên Đỗ Thích hơi bị mái. Ngày nay gọi là Gay. Ngô Nhật Khánh vốn dung nhan đẹp, ăn mặc thời trang, ăn nói ngọt nhạt, đã gạ gẫm mua chuộc Đỗ Thích. Đỗ Thích được giai đẹp chiều chuộng thì Ngô Nhật Khánh thì bảo gì mà chả làm. Một hôm Đỗ Thích ngủ gật, miệng há, nước dãi chảy dòng dòng, Ngô Nhật Khánh bắt con đom đóm thả vào mồm. Thích giật mình tỉnh dậy, tưởng nằm mơ thấy sao chui vào bụng liền kể cho Khánh. Khánh phán ngay đây là số làm vua. Thích mà giết được vua, Khánh sẽ kêu gọi lực lượng phò tá cho Thích lên ngai vàng. Coi như con cháu Ngô Vương phò tá cho nội quan họ Đỗ lên ngôi. Thích nghe sướng quá làm liền.

Mọi việc sau đó như ta đã biết.

Còn Ngô Nhật Khánh sau khi tin chắc Đỗ Thích sẽ ra tay, bèn trốn ngay qua Chiêm. Đợi tin vua Đinh băng hà là mượn quân Chiêm về đánh Lê Hoàn ngay lập tức. Mỗi tội đi đường biển, gặp bão nên chết ráo cả. Việc Khánh qua Chiêm và quay về rất sớm so với thời điểm nhà Tống khởi binh đánh Lê Hoàn chứng tỏ Khánh đã tính toán mọi việc từ sớm và rất kỹ. Khánh liên lạc với Chiêm Thành chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để vua Đinh chết là Khánh qua bên đó dẫn quân về được ngay. Nhưng số phận quả thực không bao giờ nương tay với những kẻ mượn sức ngoại bang dày xéo quê hương.

(Cũng có 1 giả thuyết khác cho rằng kẻ chủ mưu là Nguyễn Bặc, thông đồng với mẹ Hạng Lang để giết vua thông qua nhân viên dưới quyền là Đỗ Thích, sau đó giết người diệt khẩu. Tuy nhiên cái này nghe vô lý. Nếu Nguyễn Bặc có làm phản thì cũng phải có Ngô Nhật Khánh dính dáng vào. Đại để là biết rằng giết vua Đinh xong thì vẫn còn Lê Hoàn nên Nguyễn Bặc sẽ đánh Lê Hoàn bằng một ngả, Nhật Khánh đánh Lê Hoàn từ ngả khác bằng quân mượn của Chiêm. Nhưng do Nhật Khánh bị bão đắm tàu nên Nguyễn Bặc không địch nổi Lê Hoàn và tử trận)

* Hic: Cám ơn bạn SGnese đã sửa hộ chính tả. Nhân tiện cũng đã sửa các câu lủng củng.

Hôm nay có một bạn gọi điện thoại đến (tài nhỉ, biết cả số di động của 5xu). Xưng tên là MacDue. Nói là comment mãi không được nên sẽ gửi qua email. Dưới đây là comment của bạn ấy. À, bạn này lại còn mày tao nữa chứ.

Tao submit comment mãi mà không được. Thôi gửi cho mày vậy.Ngô Nhật Khánh chỉ là bà con với Ngô Quyền thôi. Anh Quyền ly hương, bôn tẩu giang hồ, nên con cháu khởi nghiệp ngoài tứ xứ. Còn Khánh chắc là con ông anh, ông em gì đó của Ngô Quyền, cắm chốt ở làng để hương hỏa ông bà, nên lãnh địa cát cứ của Khánh là vùng Đường Lâm, Sơn Tây, vốn là quê của Ngô Quyền (và cả của Phùng Hưng trước đó).Cuộc hôn nhân giữa Đinh Tiên Hoàng và mẹ Nhật Khánh mang nặng tính chính trị, nhằm giúp nhà vua thâu tóm một sứ quân bằng biện pháp phi quân sự. Lấy mẹ Khánh xong, Tiên Hoàng còn cho Đinh Liễn lấy em Khánh, và gả con gái mình cho Khánh để đan dày thêm mối quan hệ giữa hai họ Đinh, Ngô. Mẹ Khánh bởi vậy chắc cũng hơi bị “giừ”, tuổi cỡ xêm xêm Tiên Hoàng, khó mà đẻ Hạng Lang (lúc Hạng Lang sinh thì Tiên Hoàng cũng đã U55).

Đỗ Thích là nhân vật thực hư không rõ ràng. Ngay cả cái tên Thích cũng mang tính phiếm chỉ vì dùng chữ Thích trong “thích khách” (assassin). Ngày xưa làm vua lúc nào cũng nơm nớp sợ bị giết. Tiên Hoàng có thằng hầu tên là assassin thì thể nào chẳng chột dạ. Nếu không chấm dứt ngay hợp đồng lao động với nó thì chắc chắn cũng đổi tên cho nó rồi (vua Trần gì gì về sau cũng chê tên của người hầu là Bùi Mộc Lạc (cây đổ) là gở, nên đổi tên khác. Truyền thống này còn tiếp nối đến tận thời cụ Hồ). Đỗ Thích là hoạn quan, không có vây cánh mà bầy đặt giết vua cướp ngôi, e rằng hơi vô lý. Chuyện “giấc mơ nuốt sao Bắc Đẩu” chắc là do bị Nguyễn Bặc bức cung, đánh đau quá nên khai đại. Túm lại, Đỗ Thích là thích khách, nhưng hành động theo chỉ đạo của ai? Lê Hoàn? Dương hoàng hậu? Ngô Nhật Khánh? hay thằng cha nào khác?

Bác 5xu cho rằng sứ mệnh của Đỗ Thích là do Ngô Nhật Khánh giao phó cũng có lý của nó. Kỳ án trong lịch sử xưa nay vô thiên lủng, sử gần như từ năm 1945 đến nay mà còn tù mù, thì sử xa như thời mới khai sáng nền độc lập tận thế kỷ thứ X thì ai mà làm rõ được.

Nhân tiện comment entry về Lê Hoàn. “Đại hành” là tên chung chung để chỉ vua, hoàng hậu, hoàng hậu lúc mới thăng, chưa táng vào lăng. Lúc này tự quân và quan lại mới luận xem lúc sinh thời nhà vua có làm nên cơm cháo gì không, nếu có công tích thì gọi là Văn, Võ, Thánh, nếu vô thưởng vô phạt thì là Nhân, Minh, Huệ, Duệ, ác thì là Ai, Lệ, chết yểu thì gọi là Thiếu, v…v… Lê Hoàn không lập thái tử, nên lúc ông chết đi đám con cháu mải tỉn nhau khiến đất nước vô chủ trong 8 tháng. Triều đình vì vậy cũng chẳng còn bụng dạ đâu mà bàn chuyện đặt tên thuỵ, thành ra khổ thân nhà vua chết dính với cái tên đại hành. Thế nên về sau có thằng xứ Tàu sang ta dè bỉu chê dân Việt trình văn minh “lùn”, không biết đường mà đặt tên cho vua. Lẽ ra dân ta ngày nay có đem tên của nhà vua đặt làm tên đường phố thì nên đặt là Lê Hoàn, hay Lê Tiên chúa hay gì gì đó thì hợp lý hơn là Lê Đại Hành nhiều.

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ai chủ mưu?

Ai là sát thủ?

I. Bí ẩn vụ ám sát Vạn Thắng Vương.

II. Ai là sát thủ?

Nói chung nghi và đổ tội cho cặp bài trùng Lê Hoàn – Dương Vân Nga là dễ nhất. Nói gì thì nói, Lê Hoàn là người hưởng lợi quá nhiều từ hai cái chết của cha con Đinh Tiên Hoàng – Đinh Liễn.

Chỉ vài tháng sau cái đêm đẫm máu đấy, Lê Hoàn có tất cả giang sơn, ngôi vua, quần thần. Lại có cả trâu lẫn nghé. Trâu hơi bị ngon, nghé hơi bị chuẩn.

Thế nhưng tại sao cả ngàn năm sau đó không một tài liệu chính thức nào, không một câu truyện dân gian nào, không một bài vè nào có ý nói Lê Hoàn giết minh chủ. Cũng không có một dấu tích nào trong sử sách lẫn dân gian cho thấy Thái hậu họ Dương có ý giết chồng, đưa ngôi báu cho tình lang. Các sử gia phong kiến nếu có ý gì chê Lê Hoàn – Dương Vân Nga thì chỉ chê việc họ lấy nhau, không có ý chê việc giết vua Đinh.

Cho đến gần đây mới có thuyết nói Lê Hoàn toa rập với người tình để chiếm ngôi báu. Còn kẻ thủ ác Đỗ Thích kia chẳng qua chỉ là quan nội thị lớ ngớ đứng đấy mà mang tội oan.

Thế sử chả ghi rõ là hoàng đế và nam vương nhậu xỉn nằm ở sân cung đình, bị Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích bỏ trốn nhưng không kịp vì Nguyễn Bặc bố ráp chặt chẽ quá. Đỗ Thích lẩn trốn ngay trong cung vua, ba ngày sau bị cung nữ phát hiện. Nguyễn Bặc đưa quân đến bắt và giết ngay. Lý do giết ngay có thể vì ngày xưa có nghiệp vụ điều tra xét hỏi, tóm được là giết luôn. Cũng có thể Đỗ Thích là quan nội chính, do Nguyễn Bặc phụ trách trực tiếp (Nguyễn Bặc là Định Quốc Công, lo việc nội bộ trong triều) nên Nguyễn Bặc để tránh phiền luỵ nên giết luôn.

Cung vua ngày xưa tổng cộng chắc chỉ bằng cái resort bây giờ. Phía sau lại là núi. Phía trước mở ra đồng bằng. Sân cung đình may ra to bằng cái sân hợp tác xã vớ vẩn. Bữa tiệc cuối cùng trong đời Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn chắc chỉ là một bữa thịt nai uống với rượu lá chuối. Lính thị vệ chỉ vài người là canh được cái sân này. Nếu có biến, cả gia đình vua (hồi đó chắc ở quây quần hết trong đó) thắp đuốc đổ ra ngay. Cho nên khả năng không bắt nhầm không giết nhầm là rất cao. Tức là chính Đỗ Thích là sát thủ.

Ngoài ra cũng rất khó phủ nhận việc Đỗ Thích là sát thủ. Nếu phủ nhận Đỗ Thích là sát thủ thì đối tượng nghi can số một chính là Nguyễn Bặc, sau đó mới là Lê Hoàn.

“Đến đây, thấy nhà vua dùng yến tiệc vừa xong, say rượu nằm ngủ ngay giữa sân cung đình, Đỗ Thích bèn lẻn vào giết chết Nhà vua, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Đinh Liễn. Bấy giờ, lệnh lùng bắt thủ phạm rất gấp, Đỗ Thích phải trèo lên nằm trong máng nước ở trong cung suốt ba ngày liền, đói khát lắm. Thế rồi trời đổ mưa, Đỗ Thích thò tay hứng nước mà uống, cung nữ nhìn thấy nên đi báo. Đinh Quốc Công là Nguyễn Bặc sai người bắt xuống và đem đi chém đầu”

III. Ai chủ mưu?

Đăng tải tại nhảm | Chức năng bình luận bị tắt ở Ai là sát thủ?

Bí ẩn vụ ám sát Vạn Thắng Vương

I. Bí ẩn vụ ám sát Vạn Thắng Vương.

Hôm nay vào wikipedia tiếng Việt nghịch. Và bị choáng một phát tý ngất khi thấy có nói đến các sử gia hiện đại của Việt Nam đưa ra một giả thuyết về vụ án mạng lúc nửa đêm đã cướp đi cả hai cha con vua Đinh.

Các sử gia này cho rằng Lê Hoàn và Dương Vân Nga toa rập để ám hại cùng lúc Hoàng Đế Đinh Tiên Hoàng và Nam Vương Đinh Liễn. Còn Đỗ Thích chẳng qua chỉ là nạn nhân, vô tình có mặt ở hiện trường nên dính tội giết vua. Các sử gia này khôn gớm thật. Các vị quên mất tiêu một điều rằng Đinh Liễn là người quyền cao đức trọng kinh khủng. Một tay ông làm hết việc hậu trường của nhà Đinh. Thủa hàn vi ông là người hy sinh nhiều nhất, kể cả những việc nguy hại đến tính mạng, để giúp cha dẹp lọan 12 sứ quân. Ông là người lo đối ngoại với Chiêm và Tống, tránh gây chiến tranh đổ máu. Ông cũng là người lo phần nhân sự cho vua cha. Lê Hoàn cũng là một trong những tráng sỹ đầu tiên do Đinh Liễn tuyển mộ và đào tạo.Suốt cuộc đời mình, Lê Hoàn được hai cha con vua Đinh cưng chiều hết mực và leo lên chức vụ to hơn cả các tướng là bạn đồng liêu của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền.Chính sách quân sự ngoại giao của Lê Hoàn với nhà Tống cũng giống chính sách ngọai giao khôn khéo của Đinh Liễn.

Về khía cạnh phục tùng minh chủ thì khó có khả năng một võ tướng hiển hách có công với nhà Đinh, trải qua gian khó với nhà Đinh, được nhà Đinh đối xử tử tế, mà lại ra tay giết cả hai cha con vua Đinh trong cùng một đêm một cách tàn khốc như thế.

Cũng khó có khả năng Lê Hoàn ra tay tàn độc như thế mà các tướng như Nguyễn Bặc lại để yên, thay vào đấy đi truy nã và giết Đỗ Thích. Các tướng như Nguyễn Bặc, Đinh Điền cũng không phải tay vừa, về sau kéo quân về Hoa Lư đánh nhau với Lê Hoàn chỉ vì ông này tính lên ngôi vua. Tất nhiên Lê Hoàn ra tay một phát, các tướng chết sạch.

Cũng khó có khả năng Lê Hoàn giết vua mà sau này lên làm vua mà được dân yêu mến thế (nên mới có tên Lê Đại Hành).

Cũng khó có khả năng Đinh Toàn, suốt 20 năm sau này phục tùng răm rắp Lê Hoàn nếu Lê Hoàn là kẻ đã giết cả cha và anh mình. Đinh Toàn cũng là võ tướng, hy sinh ngoài trận địa, chứ không phải hèn nhát gì.

Thế thì ai thực sự ra tay giết vua? Nếu đúng là Đỗ Thích thì tại sao viên quan nhỏ như thế mà dám làm việc tày trời như thế? Truyền thuyết Đỗ Thích nằm mơ thấy sao rơi vào miệng nên nghĩ mình làm vua là do đâu?

Ngoài ra có một câu hỏi phụ nữa. Tại sao Đinh Liễn tài giỏi như thế, công lao như thế, vua cha yêu như thế, sùng đạo phật thế, mà tự nhiên lại đi giết em? Mà giết em xong, vẫn được vua cha tin cẩn, cho ở trong triều.

Suy nghĩ mãi ong cả thủ. Mới hơi hơi thấy manh mối.

Dưới đây là tóm lược vài nhân vật trong vụ ám sát ghê gớm nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử Việt nam.

1. Đinh Bộ Lĩnh: xuất thân là trẻ con hiếu động, chuyên nghịch dại, chơi nhiều trò liều mạng. Nhưng cũng rất khéo léo thu phục nhân lực. Rất có công trong việc dẹp lọan 12 sứ quân. Lên ngôi vua. Ông xưng hoàng đế. To hơn ông trước chỉ xưng vương là Ngô Quyền và các hậu duệ. Ông đặt tên nước cũng rất hoành tráng là Đại Cồ Việt.

2. Đinh Tiên Hoàng có 5 vợ, nhiều con, trong đó có 3 con trai.

3. Trong 5 bà vợ, duy nhất chỉ có bà Dương Vân Nga là nổi bật đến ngày nay. Bà cũng là con nhà dòng dõi Dương Tam Kha. Bà cũng rất gấu, dám làm vợ hai vua. Vua nào cũng giỏi. Một bà nữa là mẹ của Đinh Hạng Lang. Bà này có hai đời chồng, chồng trước là dòng hoàng tộc nhà Ngô. Chỗ này là đoán mò vì có khả năng lịch sử nhập nhằng hai bà vợ làm một nên có lúc Dương Vân Nga bị coi là ba đời vua (tính cả vua Ngô smt). Đồng thời nhập nhằng Ngô Nhật Khánh là con của Dương Vân Nga. Sự thực có thể Ngô Nhật Khánh là con riêng của bà vợ kia, tức là anh cùng mẹ khác cha với Đinh Hạng Lang. Ngô Nhật Khánh vốn rất hiềm khích với các con riêng của bố dượng, đã từng rạch mặt em gái Đinh Liễn vì cho rằng mình và Hạng Lang bị Đinh Liễn đè nén. Sau này Ngô Nhật Khánh đào tẩu qua Chiêm, mượn quân Chiêm về đánh Lê Hoàn (lúc đó vua Đinh đã băng hà)

4. Trong 3 người con:

+ Con cả là Đinh Liễn là lớn nhất, ra đời khi Đinh Bộ Lĩnh chưa làm vua. Khi dẹp lọan 12 sứ quân, công lao rất nhiều, có lúc chấp nhận làm con tin hàng nhiều năm. Sau khi bố lên hoàng đế, ông cũng thi thoảng đi làm con tin nhưng ở vai trò ngoại giao với Chiêm hoặc Tống.

+ Con út là Đinh Hoàng Lang. Việc vua Đinh đột nhiên đưa chú bé còn ẵm ngửa này lên làm Thái Tử đã khiến Đinh Liễn phải ra tay giết em. Gây nên nhiều rắc rối sau này.

+ Con giữa Đinh Toàn. Đinh Toàn là con Dương Vân Nga. Lúc vua Đinh bị ám sát chết thì Toàn lên ngôi vua, mẹ lên Thái Hậu. Tuy nhiên sau này Lê Hoàn từ nhiếp chính lên làm vua thì Đinh Toàn được Lê Hoàn bồi dưỡng làm cán bộ nguồn. Sau thành tướng, hy sinh ở mặt trận.

Ai là thủ phạm vụ ám sát? Và tại sao Đinh Liễn giết em? Kỳ sau chưa chắc đã rõ.

II. Ai là sát thủ?

III. Ai chủ mưu?

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 1 bình luận

Truyền Thuyết, Phân Tâm Học, và Bản Sắc Việt

Lời nói đầu: Như đã hứa từ entry trước, dưới đây là bài viết về bản sắc tâm lý Việt phóng chiếu từ văn hóa dân gian. Tuy nhiên tất cả những gì viết dưới đây đều là bốc phét, híhí.

I. Thánh Gióng (đời Hùng Vương Thứ 6)

Thánh Gióng là một trong tứ bất tử, tượng trưng cho tinh thần chống ngọai xâm của người Việt. Từ trẻ con đến người già, từ thế hệ này đến thế hệ kia, không ai là không thích hình ảnh Thánh Gióng nhổ tre đằng ngà đánh thắng giặc Ân. Thế nhưng nếu sử dụng phân tâm học để giải nghĩa câu chuyện có tính anh hùng ca bất khuất này chúng ta rất có thể đi đến những kết luận khá bi quan.

Đầu tiên là việc mẹ Gióng ra ruộng cà dẫm phải dấu chân đàn ông rồi về mang bầu và sinh ra Gióng. Hình ảnh ruộng cà và dấu chân đàn ông là phóng chiếu (projection) hiếm hoi còn sót lại của hình thức sinh họat quần hôn ngày xưa. Việc Gióng không có cha và chỉ sống dựa vào vòng tay của mẹ là hình ảnh không thể chối bỏ của xã hội mẫu hệ. Cho tới lúc đánh thắng giặc Ân và bay về giời, Gióng hoàn toàn là một chú bé, sống trong vòng tay của mẹ.

Quan hệ Gióng và Mẹ Gióng đã lặng lẽ đi vào tâm thức của người Việt không biết bao nhiêu ngàn năm. Có thể nó chính là căn nguyên của một thứ tạm gọi là mặc cảm Em Chã (dịch ra tiếng Anh là Mother Boy Complex hahahaha). Tây nó có mặc cảm Ơ Đíp (Eudipus Complex) thì mình cũng phải có cái mặc cảm em chã cho nó bằng Tây chứ. Chả lẽ mấy ngàn năm mà chả có cái mặc cảm nào cho bằng chị bằng em thì chết.

Những gì mà Gióng làm được sau khi được mẹ nuôi nấng ngần ấy năm, tốn cơm của cả làng, là nhổ tre đằng ngà oánh tan giặc Ân, rồi bay đi mất. Tại sao không phải là Thánh Gióng lớn lên đi xâm lược Trung Quốc, mang của cải và nô lệ về phục vụ dân làng, làm giàu cho xã hội, mà chỉ là đánh giặc Ân xong rồi té?!. Có phải là mặc cảm em chã nó chỉ cho phép chúng ta giới hạn ước mơ chỉ ở chỗ ai động đến mẹ tao thì tao đánh, chứ con việc kiếm ăn làm giàu là việc của mẹ tao rồi, tao chỉ đi học cho giỏi, ai động đến mẹ tao là tao chửi vỡ mặt, thế là hoàn thành trách nhiệm đàn ông hay không?! Chưa hết, toàn bộ anh hùng ca Thánh Gióng chỉ diễn ra trong một không gian rất hẹp, địa điểm xa nhất là nhổ bụi tre đầu làng để tỉn giặc, còn xa hơn tí nữa là phi ngựa ra cái núi gần đấy rồi bay mất. Đây chính là phóng chiếu đáng sợ nhất về tâm lý sợ phiêu lưu, chỉ quanh quẩn sau lũy tre làng, của dân tộc chúng ta.

Ngay cả hình ảnh đánh Giặc Ân ở đây cũng thể hiện tâm lý “phòng ngự phản công” kéo dài đến tận ngày nay. Trong lịch sử nước ta chưa có danh tướng nào ở vị thế cầm quân đi xâm lược nước khác mà hầu hết là danh tướng đánh đuổi ngọai xâm. Nhiều khi đọc về Alexander, Thành Cát Tư Hãn, Napoleon chúng ta cứ thèm muốn trong lịch sử của mình phải có 1 danh tướng có khả năng triển khai quân đội tới các vùng xa lắc xa lư, cướp bóc tài nguyên, bắt nô lệ, mang về phục vụ người Việt. Thà có một danh tướng ‘hiếu chiến’ như thế để mà tự hào còn hơn là có một list các danh tướng yêu hòa bình suốt ngày chỉ đợi ngọai xâm đến đô hộ nhà mình xong mới đi đánh. Chán chết. Ngay cả hình ảnh hàng ngàn cổ động viên gào thét Việt Nam Vô Địch ngay cả khi chúng ta vừa thua Nhật với tỷ số 1-4 cũng là một hình ảnh có tính kéo dài của mặc cảm em chã chỉ muốn sống êm đềm trong vòng tay của mẹ.

II. Ba ba tứ bất tử còn lại

1) Tản Viên Sơn Thánh (đời Hùng Vương 18).

Tượng trưng cho tinh thần chống lại thiên tai, chinh phục thiên nhiên. Nhưng điều bất ngờ ở đây là từ xa xưa, các đấng nam nhi đại trượng phu đã có chủ trương lấy con gái đại gia (hay còn gọi là đầu tư vào trym). Đến Sơn Tinh oai hùng thế mà cũng cạnh tranh khốc liệt để lấy con gái vua Hùng. Cuộc cạnh tranh khốc liệt này dẫn đến câu ca dao “Được thì làm con rể vua/ Thua thì làm giặc”. Phóng chiếu ngược lại ta có thể thấy vai trò yếu kém của người đàn ông khi tất cả những gì hiển hách nhất trong cuộc đời anh ta chỉ là lấy được con gái đại gia. Còn vị con rể hụt kia, có tài đến mấy, cuối cùng cũng chỉ thành một icon cho tính Gato vĩ đại của người Việt (Gato là thuật ngữ của tathy, có nghĩa là ghen ăn tức ở). Thành tích lớn nhất của anh ta là ‘ko ăn thì cố mà đạp đổ’ cho dù việc đạp đổ này đều bất thành.

Người đầu tiên tung hô Sơn Tinh chính là Thục Phán. Sơn Tinh là con rể Hùng Duệ Vương còn Thục Phán là cháu rể. Thục Phán dấy quân đánh vua Hùng nhưng bị vua Hùng sai con rể ra tỉn tý chết. Ngôi vua về sau nhường cho con rể nhưng Sơn Tinh vì ích nước nên thuyết phục vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán để thống nhất Âu Việt và Lạc Việt. Sau khi có ngôi vua, Thục Phán phong thánh cho Sơn Tinh. Điều này đã trở thành tiền lệ và đến nay vẫn còn hiệu ứng khi các vị kế nhiệm luôn thần thánh hóa những người đã đưa họ lên chiếc ghế quyền lực. Nhìn từ góc độ tâm lý thì đây là sự phản kháng có tính dây chuyền từ thế hệ này qua thế hệ khác việc đề cao các nhân không phải là nam giới đưa ai đó vào chiếc ghế quyền lực.

Câu chuyện Thục Phán An Dương Vương còn có một connection khá đặc biệt nữa là kẻ phế truất Thục Phán chính là con rể của ông. “Kẻ thù ngồi sau lưng vua” có lẽ đây là phóng chiếu hiếm hoi của tâm lý trỗi dậy chống lại mặc cảm Em Chã. Tuy nhiên sự chống lại này khá là nhỏ nhoi khi nó chỉ giới hạn ở việc đổ lỗi cho một người phụ nữ. Nhưng dù sao cái hay ở đây là đã le lói thấy ý thức coi tâm lý em chã và vòng tay phụ nữ chính là kẻ thù gây ra mất nước. Suốt về sau này, nhiều lần mất nước, cũng chẳng qua nhà cầm quyền toàn là Chã và Siêu Chã. Sự lệ thuộc và gian nan của nước Việt trong lịch sử cận đại và hiện đại đều là do chính quyền đã chối bỏ mẹ đẻ để sống trong vòng tay mẹ-đỡ-đầu là đủ các lọai chủ nghĩa từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa đế quốc.

Mặc cảm Em Chã do thời cuộc đã dịch chuyển (deplacement – 1 thuật ngữ của phân tâm học) qua Mặc cảm Em Chã Con Nuôi. Hay có thể gọi tắt là Mặc Cảm Nghĩa Chã. Dịch ra tiếng Tây là bị dịch chuyển từ Mother-Boy Complex qua GodMother-Boy Complex. Tuy nhiên như chúng ta thấy, hình như từ ngày chuyển qua mặc cảm Nghĩa Chã, chúng ta có điều kiện tiếp cận (tuy là thụ động) với các nền văn minh cao cấp hơn đến từ phương Tây.

2) Chử Đồng Tử (đời Hùng Vương thứ 3)

Tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc. Chử Đồng Tử là con thuyền chài ngèo kiết. Chẳng qua được cái khỏe mạnh nên gái nhà đại gia theo cho nên thành người. Nhờ vốn liếng và quan hệ của bố vợ, chàng đi buôn hơi bị thành công. Điểm thú vị ở đây là sau khi có tất cả rồi, chàng đột nhiên có máu phiêu lưu. Tuy nhiên mới chỉ ra đến cửa biển Đồ Sơn chàng đã gặp pháp sư Ấn độ, thụ giáo xong là quay về liền. Có thể interprete câu chuyện này: chưa bao giờ dân tộc chúng ta đủ ăn đủ tiêu đủ phè phỡn để mưu cầu đến các khát khao cao hơn (tầng mấy của tháp Maslow ấy nhỉ) như đi du lịch, đi khám phá các nền văn minh khác và có một tôn giáo tín ngưỡng cho riêng mình. Ở đây mặc cảm em chã lại một lần nữa xuất hiện: Chử Đồng Tử là dân sông nước, đổi đời nhờ lấy con vua, nhưng khát khao nâng mấy cái needs của anh lên tầng trên trong tháp Maslow cũng chỉ giới hạn ở cửa biển. Dù chỉ là phóng chiếu của tâm lý vào truyền thuyết, mà sao ước mơ vẫn bé nhỏ quá. Bé nhỏ quá.

3) Bà chúa Liễu Hạnh (Hậu Lê)

Tượng trưng cho kinh doanh, văn học nghệ thụât, quân sự. Đây là một tứ bất tử đặc biệt nhất, thú vị nhất và quan trọng nhất. Khác với 3 cụ ở trên, cụ này là gái, lại trẻ hơn ba cụ kia nhiều thế kỷ. Ba cụ kia có từ thời vua Hùng. Cụ Liễu Hạnh có từ thời Hậu Lê. Tại sao lại thế?

Tại vì:

Tính đến giữa thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ hai thì chỉ duy nhất có hai cuộc khởi nghĩa lớn và thành công. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên là Hai Bà Trưng, cuộc thứ hai là Bà Triệu.

Ở thời Hai Bà Trưng người Việt vẫn chưa có họ. Họ của Hai Bà sau này có lẽ được các sử gia phong kiến tự đặt vào. Họ cũng gọi hai bà là Vua. Việc hai bà không có họ cũng cho thấy xã hội Việt lúc đó, tuy đã bị ảnh hưởng của bọn Tàu, nhưng vẫn là hình thái xã hội mẫu hệ. Và như hệ quả của nó, thủ lĩnh khởi nghĩa không phải là đàn ông. Lý do trả thù chồng là Thi Sách mà khởi nghĩa chẳng qua là sự phóng chiếu ngược của những sử gia đàn ông tự ti sau này. Họ viết lại lịch sử như thể Thi Sách và các thủ lĩnh hồi đó bị Mã Viện tàn sát hết nên power mới đến tay phụ nữ. Trong khi đó, nếu nhìn bằng con mắt của phân tâm học (phóng chiếu ngược) thì có thể hiểu quyền lực thực sự là của phụ nữ, việc các ông chồng bị sát hại chỉ là cái cớ để các bà dấy lên phong trào chống ngoại xâm.

Nhưng từ khi bọn Tàu nó đô hộ, đang từ xã hội thị tộc mẫu hệ chúng ta chuyển phắt một nhát qua xã hội phong kiến mà vai trò lãnh đạo là đàn ông. Không chỉ bị nô dịch mà chúng ta chưa đủ chín về tâm lý để thay đổi cho kịp thời cuộc. Chính vì thế mặc cảm em chã bị dồn nén xuống sâu nhất có thể. Mãi đến thời Hậu Lê nó mới có điều kiện trỗi dậy và từ đó chúng ta có Bà Chúa Liễu Hạnh (sinh năm 1557 ở Nam Định). Và cũng từ đó thờ Mẫu tự động trở thành một kênh tín ngưỡng cực kỳ quan trọng của dân tộc Việt. Quan trọng đến mức hình ảnh của bà chúa Liễu Hạnh cực kỳ đa dạng: vừa là con ngọc hoàng, thoắt cái thành người trần, vừa trêu ghẹo người đời, thoắt cái đã cầm quân đánh nhau với triều đình (phong kiến nam quyền), thoắt cái đang phù hộ đánh ngọai xâm lại quay qua trả thù Việt gian. Mặc dù cuộc đời của bà dừng lại khi mới chỉ 21 tuổi nhưng bà đã kịp làm vợ, làm mẹ, mà vẫn làm thần tiên.

Như vậy từ truyền thuyết Thánh Gióng thời Hùng Vương, tự nhiên đến thế kỷ 16 chúng ta đùng một phát có Bà Chúa Liễu Hạnh. Mặc cảm Em Chã dồn nén mấy ngàn năm ọach một cái phóng chiều vào một người phụ nữ trẻ. Người phụ nữ này làm được tất tần tật mọi thứ, chả thiếu thứ gì. Thế thì đàn ông cần gì làm nữa, chỉ lanh quanh đọc sách thánh hiền xong đi thi lấy dăm cái bằng PhD hay thi IMO là về nhà được mẹ xoa đầu khen giỏi, mua cho mấy bộ quần áo đẹp rồi kiếm vợ cho. Haha. Ngay cả sự bất công trong xã hội, Bà Chúa Liễu Hạnh cũng giải quyết láng bằng cách khen người tốt trừng phạt kẻ xấu.

Chính từ thời điểm này Mặc Cảm Chã chuyển dịch thành Mặc Cảm Siêu Chã (super-mother-boy complex) và gây ảnh hưởng sâu đậm đến tính cách của người Việt sau này. Mặc dù có thể list ra vô số các cái gọi là tính cách Việt nhưng nói chung đều gói gọn ở chỗ sống và phấn đấu chỉ vừa đủ để làm hài lòng Thánh Mẫu (SuperMother). Và một dân tộc như vậy có thể sẽ không bao giờ trở thành thành siêu dân tộc bởi vì không bao giờ có Siêu cá nhân (tại không có Super-Ego). Mọi sự sáng tạo vượt ngưỡng của mẹ đều không khả thi. Thậm chí còn không được phép, các cá nhân le lói một chút tài năng hơn người đều bị hãm hại (như Nguyễn Trãi, Vũ Như Tô) hoặc đa phần sẽ bị giới cai trị xoa đầu khen giỏi từ tấm bé khiến cho mãi mãi không thành người được (nhiều tiến sỹ Văn Miếu là như thế). Mọi khát vọng phiêu lưu đều chỉ dừng trong vòng tay của mẹ. Ngay cả sau này có Mẹ Đỡ Đầu hoành tráng thì cũng chỉ đi xa hơn được một tý. Nhưng một tý trong mấy trăm năm cận đại hóa ra rất nhiều so với vài ngàn năm trước đấy.

III. Ca dao, tục ngữ, thành ngữ

Mấy cái này thì quá nhiều, rất nhiều cái trong đó có thể mang ra phân tích. Tuy nhiên có hai câu sau thuộc loại độc đáo nhất và cũng đau lòng nhất:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng …” và câu “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Bản chất của Mother-Boy là ích kỷ, hiếu thắng và hay ghen tỵ. Chúng rất hung hăng với người nhà và hèn nhát với người ngoài. Chính vì thế mà dân tộc có mặc cảm em chã không bao giờ có thể đoàn kết và hòa thụân được. Hai câu ca dao trên nó xuất phát từ tiềm thức thấu hiểu sự mất đoàn kết của dân tộc Việt. Đọc lên bề ngoài như một lời khuyên nhưng thực ra nó là phóng chiếu của nỗi đau mất đoàn kết. Các vùng miền (khác giống chung dàn) đấm đá nhau, cùng một tộc (gà cùng một mẹ) cũng cắn xé nhau. Từ đời này qua đời khác. Đặc biệt là khi chuyển sang mặc cảm god-mother-boy thì sự cắn xé nhau quá ư là tàn khốc. Bao nhiêu máu người Việt đổ xuống để tàn phá chính quê hương mình. Thật là nồi da xáo thịt. Tuy nhiên ở đây lại có một cái hay là sau một thời gian huynh đệ tương tàn, chúng ta có vẻ như đang thấm nỗi đau tàn sát, đang ngộ ra một điều rằng cái giá mà chúng ta (vô thức) phải trả đã quá đắt. Có lẽ đã đến lúc phế bỏ tất cả các god-mother để trở về với mẹ đẻ. Để mẹ Việt Nam có thể yên tâm mà nói rằng: “Tao nuôi chúng mày mấy ngàn năm, cạn hết cả tài nguyên mà chỉ thấy chúng mày cắn xé nhau làm vừa lòng ngoại bang mà đau lòng mẹ. Nay chúng mày tỉnh ra rồi, đoàn kết lại mà làm giàu đê. Ngày xưa lịch sử giao cho chúng mày hết oánh pháp lại đánh mỹ đánh tàu, chúng mày ngoan ngoãn nghe lời. Nay chúng mày ngoan mà nghe lời mẹ, quên mấy con mụ god-mother lịch lãm mà thâm độc đi, đoàn kết lại mà làm giàu, có khìn mà phụng dưỡng mẹ già. Hichic.”

Kết luận (tạm):

+ Mặc cảm Em Chã (Mother-Boy Complex): từ thời Vua Hùng đến Hai Bà Trưng

+ Mặc cảm Em Chã bị dồn nén (Repressed Mother-Boy Complex): Hai Bà Trưng đến nhà Lê. (Repression là khái niệm dồn nén ẩn ức trong phân tâm học).

+ Mặc cảm Siêu Chã (Super-Mother-Boy Complex): Từ Hậu Lê đến thời Quang Trung. Chính ra đây là thời kỳ khí thế nhất của lịch sử VN. Bắt đầu bằng việc vua Lê Thánh Tông (thế kỷ 15) là vị vua – danh tướng đầu tiên mang quân đi chinh phạt về phía nam. Ông cũng là vị vua- danh tướng hiếm hoi của chúng ta thạo thủy quân và dám mang quân vượt biển đi chinh phạt. Ở entry này cũng đã nói đến việc chinh phạt của Lê Thánh Tông. Có khả năng Lê Thánh Tông thoát được mặc cảm Siêu Chã là do ông may mắn thoát khỏi cuộc chém giết giữa các hoàng tử cùng cha khác mẹ và may mắn được lên ngôi vua mặc dù là con thứ (mẹ ông cũng chỉ là thứ phi). Ông lên ngôi vua lại đúng lúc chín (18 tuổi).

+ Mặc cảm Nghĩa Chã (GodMother-Boy Complex): bắt đầu từ Gia Long. Thời kỳ Gia Long là thời kỳ mở rộng bờ cõi nhiều nhất (entry này cũng có nói đến). Nhưng bờ cõi mở rộng được chủ yếu là bằng các biện pháp phi quân sự. Nhưng quái lạ nhất là ông vua Gia Long mưu lược thế mà cuối cùng triều Nguyễn lại có vẻ như là triều đại chã nhất trong lịch sử VN. Vua quan suốt ngày làm thơ thẩn ba lăng nhăng, gái mú om xòm, lăng tẩm ầm ỉ. Chả làm được cái quái gì về quân sự, hành chính và kinh tế. Đã thế lại còn dời đô về một chỗ rất chán là Huế nữa. Rất là khó hiểu. Có lẽ lý do duy nhất chính là cái sự “uốn éo” của Gia Long lúc thì trốn sức mạnh của kẻ thù, lúc lại mượn tay ngoại bang để chén lại các thế lực trong nước đã dẫn đến một kết quả như thế.

Kết luận chính thức:

“Nói như rồng leo làm như mèo mửa”. Tức là chỉ giỏi bốc phét, còn làm thì như bốc kít. Chính là bản sắc cơ bản của chúng ta. Entry này và tác giả của nó chính là một ví dụ điển hình. Há Há Há.

Nói chung chúng ta phải cố gắng để upgrade lên bước tiếp theo là “Nói như rồng leo làm như rồng hột vịt”.

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 4 bình luận

Crafthome

Cái cửa hàng này đã nuôi tôi hồi sống và đi học ở SG.

Kinh doanh kiểu này chính ra rất nhẹ đầu. Thuê cái nhà, decor thật đẹp, hàng hóa thật chuẩn và thật độc. Xong rồi sáng mở cửa chiều đếm tiền. Hehe. Thời kỳ vàng son nay còn đâu, hehe.

Mà chả phải riêng tôi, ối người tiếc cái thời kỳ ra đường là nhặt được tiền ở SG những năm 95-98. Bây giờ đúng là của khó người khôn vãi lúa.

Cái cửa hàng này bé xíu, khoảng 20m2. Thuê có mấy triệu/tháng. Địa thế thì đẹp, nằm giữa Đồng Khởi và Nguyễn Huệ. Thiết kế rất gọn ghẽ về không gian. Ánh sáng và màu sắc cũng đẹp. Cái hình ở trên là tờ rơi được phát đến tận tay người nước ngoài có mặt ở thành phố. Nó được in thủ công trên giấy dó.

Hàng hóa thì em gái chuyển từ Hà nội vào. Nó lặn lội đi đến từng vùng miền để đặt hàng và mang hàng về. Kiểu em mua tận gốc còn anh bán tận ngọn. Có cả sản phẩm của người Khmer ở An Giang, sát biên giới Việt – Campuchia, đến người A Đớt ở biên giới Việt Lào, người H’mông ở Hà Giang. Tất nhiên là có cả sản phẩm của các nghệ nhân người Việt. Rất nhiều người trong đó nói tiếng Việt chưa rành và có lẽ là trồng cây thuốc phiện nhanh hơn trồng lúa.

Ở cái vỉa hè trước cửa của cửa hàng là một gánh miến ngan bán rong. Người bán là hai mẹ con một cô người quận tư. Sáng dọn hàng sớm, đến khoảng 9am là bán hết hàng. Cô này có một cái rất đặc biệt là chén đũa sạch mang từ nhà sang, bán hết là thôi, không rửa tại chỗ. Bán hàng xong, có 2 can nước và xà phòng, đổ ra vỉa hè, cọ rửa sạch sẽ, rồi mới đi về. Cô ấy bán miến ngan ở cái vỉa hè đấy từ năm 1974. Không hiểu bây giờ còn bán không nữa.

Bán hàng cũng nhiều cái nhắng. Có một con trâu nước là quà sinh nhật em gái tặng. Để ở nhà mãi nó bạc phếch, mang ra cửa hàng bầy cùng lũ rối nước ở đấy. Khách đến mua nhiều người nằng nặc đòi mua cái con trâu bạc phếch ấy.

Có một con diều Huế hình con chim phượng, cực đẹp và to đùng. Treo mãi chả bán được. Xong có một tay khách ngày nào cũng vào. Xong hôm cuối cùng hỏi 1 câu là ở đây có cái gì chưa ai mua không. Ý hỏi con diều. Xong mua mang đi luôn. Cái ông nghệ nhân làm diều Huế đấy, hình như đã mất.

Khách nước ngoài có một cái đặc biệt. Vào mà không mua gì thì thái độ rất ngượng ngập. Có người còn xin lỗi. Nếu họ có bới hàng lên xem thì cũng xắp xếp lại gọn ghẽ trước khi ra về.

Hồi đó còn đang có đợt sóng khách Nhật đầu tiên tới SG nữa. Toàn bọn trẻ trẻ, đồ cá nhân (túi, đồng hồ, kính …) rất đẹp. Mua hàng khỏi phải nghĩ, mua nhiều và không bao giờ mặc cả. Đã thế còn không thèm biết tiếng Anh, toàn dùng cái calculator để nói chuyện. Có chú đứng múa một hồi để giải thích thì mới hiểu là chú ấy hết tiền, nhờ chở ra ngân hàng để rút tiền mặt.

Bây giờ có muốn mở cửa lại cũng không được. Khu trung tâm bây giờ chắc tấc đất tấc vàng. Bán hàng chả bõ nuôi chủ nhà. Người khôn, đất còn khôn hơn.

Đăng tải tại đời | Chức năng bình luận bị tắt ở Crafthome

Deus sive Natura

1.

Hôm nọ gọi điện thọai cho anh người quen. Anh này chuyên đánh các dự án lớn. Nghe nói các dự án của anh đang bị trục trặc nên gọi để hỏi thăm. Quả nhiên đúng như vậy. Nói chuyện một hồi, xong tôi bảo: “Chính ra gọi cho anh, anh bảo “đang làm cái gì đấy” em thấy còn hay hơn là nghe anh bảo “tao làm xong rồi”. Không ngờ anh này đồng ý cái rụp: “Mày nói đúng, cái quan trọng là đang làm một cái gì đấy”

Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning – Einstein

2.

Có một lý thuyết thế này. Có thể chia con người (của công việc) ra làm hai lọai. Lọai người Dương và loại người Âm.

+ Người Dương làm việc bài bản, chăm chỉ, mạnh mẽ và quyết đoán. Họ xác định mục tiêu rất rõ ràng. Ví dụ điểm cần đến là D. Và họ vạch kế họach hết sức khoa học và chi tiết để đi từ A qua B đến C rồi kết thúc ở D. Người thuộc loại Dương thường thành công sớm. Rất có tinh thần teamwork. Tuy nhiên họ không có thành công lớn thật lớn.

+ Người Âm làm việc vô lối. Họ đi đến D rất nhanh nhưng không rõ họ đi thế nào. Thậm chí họ cũng không rõ. Họ rất bản năng và bởi vậy cộng tác với họ rất khó. Tuy nhiên nếu có bộ máy supporting tốt hoặc tạo môi trường tốt cho họ, họ đi xa kinh khủng. Có những lúc đi gần đến D họ gặp khó khăn và phải dừng lại và tưởng như họ bỏ cuộc, nhưng lần nào họ cũng thoát hiểm trong gang tấc. Họ là những người thành công lớn thật lớn.

Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere – Einstein

3.

Hằng ngày chúng ta sống trong một thế giới tất định. Sáng là mặt trời lên, tối mặt trời lặn. Nhưng cuộc đời của mỗi người trong đó lại là Bất Định. Không chỉ bất định, mà nó còn phụ thuộc vô số biến số khác về không gian, thời gian, môi trường tương tác xung quanh. Thậm chí phụ thuộc cả quá khứ nữa.

Trong phật giáo, ta chỉ biết chắc được ta và thế giới xung quanh ta ở mỗi khoảnh khắc của cuộc sống (gọi là sát na). Còn sau đó biến hóa thế nào thì hoàn toàn bất định. Nếu tách ta ra khỏi thực tại của từng sát na đó và nhìn ngược trở lại, ta thấy cuộc đời, sự vật và thế giới biến đổi không ngừng và phụ thuộc liên quan linh tinh cả lên. Cái đó gọi là Vô Thường. Còn nếu nhìn vào chính chúng ta, từ bên ngoài, không không gian, không thời gian, và thấu hiểu sự Vô Thường của kiếp người, ta sẽ thấy Vô Ngã.

Before God we are all equally wise – and equally foolish – Einstein

4.

Triết gia người Hà lan thế kỷ 17 tên là Spinoza có một concept thế này “Deus sive Natura ” (“God is Nature”). Trong đó ông phá bỏ thượng đế thần thánh mà đặt thượng đế vào vai trò của Tự nhiên. Bị ảnh hưởng nhiều của Spinoza, sau này Einstein cũng cho rằng Thượng Đế (God) chính là Laws of Nature.

Kể từ ngày có vật lý lượng tử, người ta bỗng nhận ra rằng khi quan sát một thực thể vật lý thì cái mà ta quan sát được còn bị chi phối bởi xác suất (là một điều trong thế giới vật lý tất định chưa bao giờ có). Đồng thời còn có tác động qua lại giữa vật được quan sát và vật đang quan sát. Cả hai điều này dẫn đến một thế giới bất định mà ở đó những gì xảy ra đều chịu ảnh hưởng của xác suất và tương tác qua lại với xung quanh. Cũng có người cho rằng đấy không phải là một thế giới bất định mà là đa thế giới tất định. Các thế giới này đan vào nhau vào tạo ra một thế giới bất định có thể quan sát được, chính là thế giới mà chúng ta đang sống.

Vậy nên không phải vô cớ mà Einstein cho rằng đạo Phật là đạo duy nhất có thể phù hợp với thế giới vật lý hiện đại. Cái bất định của vật lý hiện đại rất giống cái vô thường trong triết lý Phật giáo.

If there is any religion that could cope with modern scientific needs, it would be Buddhism – Einstein * (Xem chú thích phía dưới.)

5.

Sống ở thế giới Tất Định. Vạch một kế họach Tất Định. Một bộ óc mạnh mẽ và ý chí mạnh mẽ. Chắc chắn sẽ thành công như tất cả những người Dương khác đang thành công. Nhưng liệu sống ở thế giới Tất Định, nhưng giác ngộ được mọi việc đều Bất Định, cái chính là đến được đích, kế họach chỉ là cho vui. Liệu có thành công được như những người Âm đã và đang thành công khác không?

Liệu có cách nào nhận thức được từng sát na của cuộc sống đang trôi qua mà thấy ta đang luôn làm một cái gì đấy. Để khỏi phải detach mình ra khỏi reality. Để khỏi cần Vô Ngã Vô Minh mà vẫn đạt được mục đích giống như Vô Thường.

Quả là khó.

You can never solve a problem on the level on which it was created – Einstein.

***

* Có vẻ như câu nói này là sản phẩm “ngụy thư” bởi Einstein chưa bao giờ nói đoạn văn mà câu này được trích ra. Đoạn văn (ngụy thư) ấy như sau: “The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual as a meaningful unity. If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism.” 

Các  bài viết trong loạt bài về Thời Gian.

1) Deus Sive Natura
2) Con mèo Schrodinger
3) Buổi sáng Heisenberg
4) Hoa hồng nở trong đêm
5) Manifold
6) Phong tục của tình yêu

Đăng tải tại sống | Thẻ | 2 bình luận

Chớm Yêu

Bài viết dưới đây lấy từ một entry không tên ở blog của bạn Anaconda. Không hiểu sao đọc cái entry này tự nhiên lại nghĩ đây là một người đang chớm yêu. Liền mang về blog của mình, đặt tên cho nó là Chớm Yêu.

Hôm nay lượn lờ hồ trên núi, nhưng không có ngôi chùa nho nhỏ bên hồ và hai sư thầy trẻ tắm tiên.

Hôm nay ngước mắt nhìn vòm cây xanh ngắt, nhưng không thấy bóng nắng nghịch ngợm nào xuyên khẽ lá .

Hôm nay xem người ta câu cá, nhưng không phát hiện ra chú cá thông minh nào đớp mồi mà không dính câu.

Hôm nay thật hiếm hoi không buồn hóng hớt nghe kể chuyện kiếm tiền, mà lại nghĩ chuyện con vịt không biết là loại động vật ngoan hay khờ khạo.

Hôm nay lúc thiên hạ hân hoan, mình lại cứ nhớ đến quả kinh khí cầu của Mít Đặc và các bạn.

Hôm nay nghe Rachmaninoff, nhưng thiếu ô cửa và ấm trà quen thuộc

Hôm nay là ngày thứ hai liên tiếp dậy sớm, sinh hoạt giờ giấc tử tế, nhưng cũng chả thấy mình văn minh lên tẹo nào

Hôm nay nghe tiếng nhạc phát ra từ dàn máy của nhà hàng, thấy nhớ em P, thèm được lau chùi và vuốt ve em một tí.

Hôm nay phát hiện ra gần đây mình đăm chiêu ngắm trần nhà và blogging hơi bị nhiều …

Chú thích 1 (của 5xu):

Cho dù bạn bao nhiêu tuổi, đã trải qua bao nhiêu mối tình, thì mỗi lần chớm yêu bạn vẫn lạc vào những trạng thái thú vị và kỳ lạ.

Cảm giác mỗi khi chớm yêu nó nhẹ nhàng, hơi bay bay, hơi phê phê và cũng hơi ngẫn ngẫn. Hí hí.

Giống như tia nắng sớm, thật khó nắm được cảm giác khi chớm yêu trong lòng bàn tay. Nhưng cũng rất dễ làm nó hiện lên, giống như thổi một làn khói lam nhẹ vào tia nắng vàng trong vắt.

Như nắng mùa đông
Làm hồng môi lạnh

Như gió thu se
Lau khô má ướt

Là nụ tình yêu
Bắt đầu chớm nở

Là nửa hơi thở
Của người chớm yêu

Chú thích 2 (của 5xu):

Hồi trước chỉ biết thiên hạ có thú vui tao nhã là nghe nhạc của Bach trong phòng ấm cúng vào các buổi chiều mùa đông lạnh giá. Vừa nghe vừa uống cafe và ăn bánh ngọt.

Nay lại biết có một thú vui tao nhã nữa là nghe Rachmaninoff vào các sáng mùa hè, bên ô cửa, và uống trà.

Có một bản nhạc của Rachmaninoff được Eric Carmen cắt cúp, chuyển thành ca khúc, viết lời và đặt tên là All by myself. Lời bài hát có đoạn.

When I was young
I never needed anyone
And making love was just for fun
Those days are gone

Livin’ alone
I think of all the friends I’ve known
When I dial the telephone
Nobody’s home

All by myself
Don’t wanna be
All by myself
Anymore

Đăng tải tại sống | Thẻ , | 2 bình luận

Đời là dòng sông!

Phi lộ
Đời là dòng sông.
Nhiều người vẫn nói thế.
Tôi thấy câu này hơi sến. Nhưng tôi thích. Và tôi cũng nói thế.

***
Dòng sông, một dòng sông đúng nghĩa,
Bắt đầu từ suối nguồn tinh khiết
Và đổ ra biển khơi.

Tất nhiên, phải chảy nữa.
Chảy suốt, không ngừng.

Trên quãng đường quanh co, gập ghềnh,
Sông nhận vào lòng mình bao nhiêu thứ.
Từ bùn đất, rác ô nhiễm.
Đến mưa rào trong mát.

Sông phủ phù sa bên này.
Rút đất bồi bên kia.

Sông vẫn chở thuyền đi.
Nhưng cũng lật thuyền xuống.

Để đi hết cuộc đời – dòng sông ấy
Ta phải kiên nhẫn bơi.
Bơi mùa bão nước gầm
Bơi mùa đông nước giá.
Bơi qua đêm không trăng
Bơi trưa nè nắng gắt.

Dưới cây cầu nước chảy
Những hạt nước đầu nguồn
Đi ra đến đại dương
Hóa thành mây trắng
Quay về nguồn, làm mưa
Hết một vòng luân hồi.
Chỉ muối mặn bể khơi
Là muôn đời không đổi.

Giống như đời con người
Xác thịt thì tan trôi
Linh hồn sẽ thị hiện
Còn sống để làm gì
Chính là hạt muối trắng
Hỏi hỏi mãi không thôi.

Vĩ thanh:

Hằng tuần tôi vẫn tập bơi một mình ở khách sạn Thắng Lợi. Vé 30 ngàn. Tuần 2 buổi. Bơi chán thì lặn. Đi bơi có đeo kính. Đeo kính bơi để có thể nhìn được dưới nước và không hại mắt. Tuy nhiên hại một số thứ ở khá xa mắt. Ởi dưới nước ta có thể thở ra nhưng không hít vào đựơc. Tất nhiên càng không nói được. Dù chỉ là ú ớ. Tuy nhiên suy nghĩ lại rất mạch lạc. Có mấy khi cơ thể, gần như không mặc gì, hoạt động trong môi trường mềm mại và quyến rũ lại không bị cảm giác ướt mồ hôi. Rất bổ cho suy nghĩ. Bơi còn có cái tiện là bài tiết mà không ai biết. Bài tiết ở đây, cụ thể là nước mắt, nếu có.

Những lúc lòng không yên
Tôi lặn xuống đáy bể

Đăng tải tại sống | Chức năng bình luận bị tắt ở Đời là dòng sông!

Làm Tiền

 Bây giờ suốt ngày người ta nói đến một thế giới toàn cầu hóa, đa biên, đa chiều, một thế giới phẳng.

Trên cái thế giới đấy con người chúng ta sống, lao động, ăn nhậu, xác thịt và các kiểu thăng hoa khác.

Càng ngày càng có nhiều cơ hội. Cơ hội học, kiếm tiền, yêu, hưởng thụ, sống …

Tất nhiên là nhiều có nhiều hơn cơ hội xâu xé và bị xâu xé.

Càng ngày càng có ít thời gian, và cả sức khỏe nữa, để “đo đạc” một cái gì đấy.

Tất cả dường như loãng ra, dễ lan tỏa, dễ tổn thương hơn, trong một thế giới phẳng.

Ít ai để ý rằng các thước đo giá trị căn bản bây giờ bị hòa tan hết cả.

Rất khó để đo giá trị của một công việc, của một con người, của một nhân cách, của tình yêu, của hạnh phúc.

Các thước đo giá trị kinh điển, nay không còn nữa.

Thước đo dễ dùng nhất, dễ áp dụng nhất bây giờ, lại chính là một thước đo xưa nay vẫn bị coi là vô cảm, bạc bẽo và đôi khi thô tục.

Tất nhiên thước đo đấy chính là Tiền.

Không những dùng để thay các thước đo kinh điển, tiền còn có thể dùng để làm phân bón cho những gì không mua được.

Kể cả làm phân bón cho những thứ tưởng như tít trên cao, trong sáng và cao siêu như tình yêu hay hạnh phúc.

Đôi khi nhiều phân quá thì tình yêu hay hạnh phúc cũng chết. Hoặc hấp hối trong sự thối tha thừa mứa của tiền. Nhưng thà chết thế còn hơn.

Vậy nên, cố mà kiếm thật nhiều tiền đi. Càng nhiều càng tốt. Càng lương thiện càng tốt.

Nhưng cũng nên ghi nhớ một điều: Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, tiền là thứ duy nhất mất đi mà có thể kiếm lại được.

Hí hí hí

(Tuần này bận quá, đéo blogging được, làm bài speech về tiền cho máu)

Đăng tải tại sống | Chức năng bình luận bị tắt ở Làm Tiền

Nhập Hạ

Hôm qua là ngày mồng một tháng tư âm lịch.

Các chùa làm lễ Nhập Hạ (vào hè) để cầu một mùa hè mát rượi và yên ổn cho các phật tử.

Công ty tôi đi dự lễ Nhập Hạ ở chùa Sơn Lôi, thôn Cao Xá, huyện Phú Thọ (trước là huyện Phong Châu).

Chùa Sơn Lôi là chùa làng, không đẹp lắm, nhưng có niên đại tới 300 năm hơn. Đặc biệt là chùa nằm trên một quả đồi cực đẹp. Trong chùa có một cây mít cổ thụ to và đẹp kinh khủng. Hỏi ông già đi lễ chùa là cây mít này bao năm rồi, ông bảo tôi không rõ, nhưng mà từ hồi tôi còn bé đã thấy cây mít như thế rồi.

Chùa Sơn Lôi là chùa làng, không có sư. Gần đây dân làng mới mời tỳ kheo Thích Minh Hợp từ chùa Hương về làm trụ trì. Ngồi nói chuyện một lúc mới nhận ra sư ông Minh Hợp ngày xưa là “ong chip” của thượng tọa Thích Viên Thành. Ngày xưa, cách đây 20 năm, vẫn thường làm tay lái chở thượng tọa đến nhà tôi.

Hôm qua cũng là lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất Phong Châu. Đất này đẹp quá đi mất. Hôm qua lại đi đúng vào mùa gặt. Các ruộng lúa vàng ươm. Rơm phơi nhiều trên các con đường. Và người dân vẫn dùng xe cải tiến để kéo lúa. Mấy ngàn năm trước, khi văn minh lúa nước được thâm nhập vào Văn Lang, chắc Vua Hùng và các thần dân của mình sống một cuộc đời hạnh phúc nhờ GDP tăng đột biến do có nhảy cóc từ kinh tế săn bắn hái lượm qua kinh tế nông nghiệp. Một mùa vàng bội thu sẽ là mùa lễ hội, đánh trống đồng và nhảy múa cám ơn thần mặt trời.

Tốc độ đô thị hóa dường như giảm hẳn khi đến Phong Châu. Nhờ đó vùng đất cổ này vẫn còn những vẻ đẹp của bắc bộ hàng mấy trăm năm trước đây. Có lẽ người dân Phong Châu ngày nay phải chịu thiệt thòi vì có ít cơ hội tiếp cận với văn hóa mới. Nhưng thà thế còn hơn phải chịu đựng cặn bã của xã hội văn minh và sự phân cấp giàu nghèo ngày càng trở nên ác độc ở miền bắc.

Trên đường về chúng tôi ghé qua làng cổ Đường Lâm. Thật là kinh ngạc khi chỉ 3 năm trước đây đình làng Mông Phụ vẫn đẹp và cổ kính như hàng mấy trăm năm trước, còn hôm qua đình làng Mông Phụ có vẻ đẹp của một công trình xi măng hóa bẩn thỉu và vô học có tuổi đời chắc chỉ mấy tháng. Cả cái sân đình cổ rộng rãi đã bị lát đè một lớp gạch mới có mạch xi măng thô lỗ. Cốt mới của sân đình cao hơn, khiến mặt sàn của đình trở nên hụt hẫng. Tất cả các họa tiết trên mái, trên cổng đình, chỗ nào có thể xi măng hóa được, đã và đang được xi măng hóa. Đô thị hóa đang hiếp râm nốt phần còn sót lại làng cổ ngày xưa.

Chiều về đến Hanoi, bọn cấp 3 lại rủ đi thăm một người bạn thân mất cách đây 4 năm. Chúng tôi đến thắp hương cho Hiếu ở chùa làng Võng Thị. Lần đầu tiên tôi đến đây và thực sự kinh ngạc về một ngôi chùa làng to và cao khủng khiếp. Nhìn cái biết ngay là chùa mới và được xây bởi những người chả biết qué gì về kiến trúc chùa bắc bộ. Nhưng mà xây chùa được là tốt rồi. Thực ra cũng không nên lăn tăn. Bản thân mình có xây được cái qué gì đâu.

Xong xuôi chúng tôi qua nhà Hiếu thăm bố mẹ Hiếu. Bố Hiếu cũng là thầy giáo dạy Hóa của chúng tôi ngày trước. Ông có thời gian 6 năm liền dẫn đội tuyển Hóa của Việt nam đi thi quốc tế. Từ ngày Hiếu mất ông không dẫn đoàn nữa. Cho tới năm nay, ông lại được mời dẫn đoàn đi thi hóa quốc tế ở Moscow.

Hiếu là một người đàn ông cao lớn, đẹp trai, cực kỳ mạnh mẽ và tháo vát. Lại sống rất hào sảng và tình nghĩa với anh em. Nhưng Hiếu đã tàn phá cuộc đời mình không thương tiếc. Hiếu mất chỉ vì cúm nhẹ ở bên Tiệp. Nhưng trước đấy Hiếu đã phá nát cơ thể mình bằng rượu và ma túy. Trước khi mất, Hiếu đã cai được tất cả, rất yêu đời và lạc quan. Số phận thật là nghiệt ngã. Nó đẩy Hiếu xuống vực thẳm, để rồi khi Hiếu leo trở lên được mặt đất an lành, thì nó lấy mạng sống của Hiếu đi.

Sau khi Hiếu mất một năm. Tôi vào một trại cai nghiện của Hà nội, đón năm ông nghiện vừa mãn hạn cai về để cho đi làm. Tất cả các ông nghiện đấy đều sinh năm 1978 và có quá khứ nghiện ma túy tới 10 năm. Ông nghiện nhất đã từng phải cầm gương để tự chích thuốc vào cổ. Mà nếu các ông ấy không nghiện thì chắc cũng đi làm nghề đao búa hết. Rồi thì không trại cai nghiện cũng tù đầy. Cái thế hệ 1978 ấy, quả thật là một thế hệ mất mát nặng vì ma túy.

Sống với tôi hơn 1 năm, tất cả đều không quay lại với ma túy. Rất yêu đời và làm việc hăng say. Buồn cười nhất là cty đi Sầm Sơn. Tôi thì bé tí, chúng nó thì to đùng, lại xăm trổ đầy người, ngồi xung quanh. Tôi đưa thuốc lá lên miệng là chúng nó xòe một lọat hộp quẹt ra để châm. Chết cười.

Thế rồi một thằng bon lại. Rồi cả bọn cùng bon. Ma túy không buông tha những ai đã từng là nạn nhân của nó. Tái nghiện còn kinh khủng hơn nghiện. Bây giờ tất cả đám đấy đều có số phận thương tâm. Nhưng mình không thể làm gì được. Mình chỉ có thể tạo cơ hội để chúng nó thoát khỏi sự bủa vây của khói thuốc, còn để thoát được, phải tự thân chúng nó thôi.

Sau khi ra khỏi nhà Hiếu, tôi và một người bạn thân nữa đi uống một lúc. Hôm qua là sinh nhật của nó. Hanoi bây giờ hết chỗ chơi, nó bảo thế, cho nên không làm sinh nhật làm gì.

Cuối cùng, mùa hạ cũng đã tới. Một mùa hạ nóng bỏng hay mát rượi, thực ra cũng tùy thuộc nhiều ở cách sống của mỗi con người.

Tuần sau chắc lên Thắng Lợi bơi được rồi.

Đăng tải tại đạo, đời | 1 bình luận