Fundamental Beauty

Mình lên ô tô ở sân bay. Mọi người (chụp ảnh) ở ngoài gọi: “Châu kéo kính xuống”. Mình suy nghĩ chậm, bình thường ai bảo mình làm cái gì thì phải 5 phút sau mình mới làm được. Đằng này lại có hai cái kính. Lúc đầu mình kéo kính cận xuống (vừa kể vừa lấy tay kéo kính xuống để tả thực). Một lúc sau mới nghĩ ra là phải kéo kính xe ô tô. Lúc đó xe đi qua mất rồi.

– NBC –

(Ảnh: Việt Hưng)

Đăng tải tại sống, đời | Thẻ , | 10 bình luận

Manifold

Bạn không thích sân bay. Ngày trước thậm chí bạn còn ghét nó. Nhưng bây giờ, sau hàng trăm lần đi qua các sân bay, bạn không còn ghét nữa.

Sân bay là một ả đỏng đảnh. Đã thế lại thường rất to xác.

Không ai có thể bày tỏ được uy quyền hay dùng tiền bạc lên cái cơ thể khổng lồ ấy. Ở sân bay ai cũng phải đợi chờ. Khách bình dân chờ từ xếp hàng, kiểm tra an ninh, đến chờ chuyến bay. Khách thật xịn, đi chuyên cơ, cũng phải chờ làm vài ba thủ tục nhỏ.

Ngay cả những người hằng ngày làm việc trên cái cơ thể to tướng ấy cũng ít ai điều khiển được nó. Thời tiết thay đổi có thể làm nó đổi tính đổi nết từ chối các chuyến bay. Còn các chuyến bay đến hay rời đi, nó cũng không mấy khi kiểm soát được giờ chính xác.

Sân bay làm mọi người khó chịu vì cái sự lạnh nhạt và xa lạ của nó. Hai người thân thiết ngồi cạnh nhau ở phòng chờ, cũng tự nhiên hơi xa lạ. Loa PA thả các thông báo nhớt nhát, thường là tin hoãn chuyến bay, uể oải rớt xuống nền gạch men sáng bóng.

Hành khách với hành lý trôi qua trôi lại trong tiếng ì ầm có tiếng mình mà xa cách như chỉ toàn tiếng người.

Sân bay là những chuyến đi. Phòng chờ sân bay là những chuyến đi không có vẫy tay, không nước mắt, không tiễn đưa, không ôm vai ấm, không hôn môi run. Cảm xúc của của mọi cuộc chia tay buộc phải cắt lại, ngay từ cửa ngoài cái cơ thể xi măng khổng lồ của cô ả sân bay nhạt hoét ấy.

Sự chờ đợi ở sân bay, dù ở phòng chờ khi đợi boarding, hay ở băng chuyền lấy hành lý lúc đi ra, là sự chờ đợi xa lạ, nhạt nhẽo và mốc khô trong không khí sặc mùi máy lạnh.

Nhưng tất cả những nhạt nhẽo của sân bay cộng dồn lại, không khó chịu bằng cảm giác thời gian nằm xa sự kiểm soát của chính mình.

Từ khi nhận ra việc mất kiểm soát khung thời gian mỗi khi bước chân vào sân bay, bạn không còn ghét sân bay nữa. Thay vào đó, bạn bắt đầu “bo” cho nó. Bạn “bo” cho nó bằng thời gian của mình.

Bạn sẽ đến sân bay sớm hơn và kỳ lạ thay, bạn thấy thoải mái hơn.

***
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống | Thẻ | 20 bình luận

Hà Nội Duyên Khởi

(Bài viết dưới đây chỉ là Vĩ Thanh cho một chi tiết của bài Ký ức đô thị. Nó cũng giúp để đọc hiểu về Hà nội cũ trong Ba Mùa Yêu.)

Gần một ngàn năm trước, khi thiền sư Minh Không đi thuyền trên sông Hồng về kinh đô chữa bệnh cho vua, từ trên sông ông đã thấy Tháp Báo Thiên nằm kế bên kinh thành và ở khu đất cao hiếm hoi giữa vùng đầm lầy kinh rạch.

Năm 1873, Francis Garnier đi tàu vào sông hồng rồi đổ bộ vào vùng đất lúc đó nằm ngoài khu Hoàng Thành cũ, thuộc tỉnh Hà Nội lúc bấy giờ, và chính là quận Hoàn Kiếm hiện nay. Quang cảnh vùng đất Garnier đặt chân xuống có lẽ cũng không khác nhiều cảnh mà thiền sư Minh Không nhìn thấy, chỉ thiếu tháp Báo Thiên.

Chỗ Garnier đổ bộ, chỗ Minh Không rẽ thuyền vào để tiếp cận cung vua, chỗ mà Henry Riviere đi tàu chiến vào bắn Hoàng Thành, tất cả có lẽ cùng là một khu vực, có thể đâu đó quanh khu chân cầu Long Biên bây giờ.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại phát triển, đời | Thẻ , | 26 bình luận

Nỗi Nhớ Đơn Nan và Lưỡng Nan

Mùa khô đi qua để mùa mưa đến. Sài Gòn nóng khô kéo dài chuyển qua mùa mưa mát mẻ. Những cơn mưa Sài Gòn không còn chợt đến, cũng không ào ạt để chợt đi như những mùa xưa, nhưng vẫn chưa đủ để làm dịu đi nắng hạ và hiệu ứng đô thị quẩn quanh suốt ban ngày trên mặt phố. Ở Sài Gòn càng lâu, tất nhiên, lại càng nhớ nhà.

Nhớ cái phòng nhỏ, có cửa sổ khung gỗ kéo đến sát sàn nhà, nhớ tủ sách để tìm những gì google không có, nhớ cái sàn gỗ nằm đâu cũng được, ngồi chỗ nào cũng có cáp mạng LAN, nhớ cả cái buồng tắm kính chui vào dội nước để khỏi cần bật máy lạnh.

Nhớ bia hơi Hàng Vải, ngồi với bạn bè thân sát vỉa hè. Một vại, hai vại rồi lơ mơ nói chuyện oang oang, để rồi kết thúc ở hàng phở đêm trước cửa chợ Đồng Xuân. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sống | Thẻ | 30 bình luận

Bữa tiệc chim

Chim lợn, thuộc họ cú, nên còn gọi là cú lợn. Chim lợn sống cô độc, hoặc có đôi, không sống theo bầy. Chim lợn thuộc bộ săn mồi. Chim lợn được coi là chim có ích vì nó săn chuột vào ban đêm. Trong thành phố chim lợn sống ở các khu có nhiều cây và nhiều chuột, ví dụ như bệnh viện.

Tên chim lợn là do nó kêu éc éc như con lợn vậy. Dân gian rất ghét chim lợn. Dân gian bảo chim lợn mà kêu đầu hồi nhà ai thì nhà đó sắp có người chết. Kêu 7 tiếng là đàn ông chết, kêu 9 tiếng đàn bà chết.

Quả thực, tiếng con chim lợn trong đêm khuya, nghe hãi hùng lắm.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 15 bình luận

Kiều Loan

Hồi trước tôi rất mê Trần Tiến. Trần Tiến hát là đi xem. Thậm chí còn đi ăn ở cái nhà hàng Trần Tiến mở trên đường Võ Thị Sáu.

Có một đợt Trần Tiến hát thường xuyên ở Idecaf. Các tối thứ tư hàng tuần. Tên chương trình là “Tìm Tôi Tối Thứ Tư”.

Đi xem Trần Tiến nhiều nên nghe được nhiều version của bài “Em sinh cho tôi một đứa con trai”. Version Trần Tiến hát, Y Moan hát, song ca Trần Tiến – Ngọc Lễ, song ca Y Moan – Ngọc Lễ …

Trần Tiến có cách giới thiệu bài hát rất duyên, liền mạch các bài hát thành câu chuyện dài về số phận của một người đàn bà.

Giới thiệu bài “Lá diêu bông”, Trần Tiến nói rất toán học thế này: Lá diêu bông là cái lá có thật, do ông Hoàng Cầm bịa ra.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách | Thẻ | 14 bình luận

Rừng Đêm

Có những cuốn sách nhỏ gắn bó với mình từ tấm bé, lúc lớn lên thấy sách không còn trong nhà, mà cảm hứng sách đã truyền cho mình khi xưa nay vẫn còn le lói.

Hôm trước ngồi trên lưng voi bà (một bà voi 50 tuổi già nua) lội qua bên kia sông Sêrêpok để đến cái gọi là bìa rừng nguyên sinh Yok Don, mới tự nhiên nhớ tới Rừng Đêm.

Thực ra năm ngoái dọn nhà, lúc chuyển cái thư viện, dỡ sách xuống cho vào bao tải, rồi lại lấy sách từ bao tải cho lên giá gỗ, mấy ngàn cuốn sách đi qua tay, mà vẫn cảm thấy thiếu hai cuốn sách mỏng cũ kỹ. Một cuốn rất rất mỏng của Maurice Druon tên là “Tistou ngón tay cái xanh” và cuốn “Rừng Đêm” của Nguyễn Quỳnh.

“Tistou ngón tay cái xanh” là một cuốn sách rất mỏng, và là cuốn duy nhất mà anh hùng dân tộc Pháp kiêm chính trị gia và tiểu thuyết gia lừng danh Maurice Druon viết cho thiếu nhi. Druon đã qua đời tháng tư năm ngoái. Và ngoài Tistou ra, tôi chưa đọc một cái gì khác của ông. Cũng có thể ông này chưa được dịch ra tiếng Việt nhiều lắm. Tistou là một cậu bé bé xíu, con một gia đình đại tư bản công nghiệp, chuyên môn sản xuất vũ khí. Cậu thích hoa, học trồng hoa, và rồi phát hiện ra mình có hai ngón tay cái xanh, gí vào đâu là từ đó mọc ra hoa theo ý cậu. Tistou có suy nghĩ đơn giản và trong sáng. Cậu đến thăm nhà tù rồi rút ra kết luận, nhà tù xấu xí và ngột ngạt quá nên tù nhân họ trốn còn lính gác cứ phải canh. Thế là cậu biến nhà tù thành một cái vườn hoa muôn màu sắc. Mỗi một ngày trong cuộc đời bé thơ của mình, cậu đi thăm một nơi, học một bài học của người lớn do ông đại tá quản gia dạy, rồi tự rút ra kết luận và giải pháp của riêng mình. Các giải pháp của Tistou toàn là hoa và hương sắc của hoa.

“Rừng Đêm” là một cuốn sách cũng mỏng, nhưng không quá mỏng. “Rừng Đêm” kể về những người Việt sống trong rừng đại ngàn, sát biên giới Việt Lào. Họ vừa chống chọi, vừa làm bạn với thiên nhiên. Họ chống chọi cả với loài người, với xã hội, và làm bạn với thú hoang, trong đó có những đàn trâu min (một loại bò rừng sừng lớn) mà Rừng Đêm là một chiến binh sừng dài nổi bật. Tình bạn của con trâu rừng được những người trong truyện đặt tên là “Rừng Đêm” với cậu bé nhân vật chính có lẽ là tình bạn đẹp nhất trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Nó hơn hẳn tình bạn Dế Mèn – Dế Trũi của cụ Tô Hoài và các tình bạn tương tự bởi tính hoang dã của nhân vật có sừng đến từ tự nhiên hoang dã và cũng bởi chính vẻ đẹp hoang dã và bí ẩn của rừng đại ngàn.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách, đời | Thẻ , | 52 bình luận

Chim Lạc là con chim gì?

Câu trả lời đúng nhất cho câu hỏi “Chim Lạc là chim gì?” chính là câu trả lời sau đây: “Chim Lạc là con chim trên mặt trống đồng nước ta”.

Câu hỏi sau đây mới là câu khó: Con chim nguyên mẫu của Chim Lạc là chim gì?

Tổ tiên chúng ta là con Rồng cháu Tiên. Rồng là con giao long, tức là con thuồng luồng, tức là con cá sấu. Con rồng trên mặt trống đồng Hòa Bình và trống đồng Phú Xuyên vẫn là con cá sấu cách điệu bò lổm ngổm. Đến Lý-Trần vẫn còn phảng phất con cá sấu. Qua đời Lê thì râu ria vẩy viếc như cá chép, bây giờ trong Hoàng Thành vẫn còn mấy con đẹp ngất ngây, chỉ tội là rồng lai tàu. Đến thời Nguyễn thì chắc là rồng rởm, đếch biết ở đâu ra. Duy có chính ông Gia Long là rồng xịn, nếu như không nói là cực xịn.

Con cá sấu chắc sống đâu đó ở đồng bằng bắc bộ, nơi các cửa sông và đầm lầy. Cũng có đầy ở chỗ sông Hồng uốn khúc mà sau này nhà Lý dời đô về.

Thuở vua Hùng rời núi xuống trung du rồi lại gần các lưu vực, con cá sấu – thuồng luồng hẳn vẫn còn nhiều lắm nên tục xăm mình không phải là thời trang anh chị mà là trang phục bắt buộc để xuống sông. Vậy nên con Chim Lạc – dòng dõi nhà Tiên, cũng mới chỉ hình thành cũng tầm tầm thời đó. Hình thành qua tín ngưỡng và truyền kỳ. Từ con sấu nâng cấp thành con Rồng. Từ vua Hùng lộn xa quá thời Thục Phán để lờ mờ thành Lạc Long Quân (đúng ra phải là Âu Cơ do phóng chiếu ngược của tiềm thức kẻ thua cuộc). Còn đất mẹ, mẫu hệ, lộn về quá khứ mơ hồ thành Âu Cơ dòng dõi nhà tiên. Nông nghiệp và thời tiết, mẫu hệ và lực lượng sản xuất, đất mẹ và mặt trời đã gây ra sự lộn xộn âm dương khi đất mẹ có ông ngoại là mặt trăng phải thờ thần mặt trời (vai đức ông chồng tỏa nắng gieo mầm sống trên đất), mới có sự ẩm ương trong ngôn ngữ lúc gọi ông trăng lúc gọi chị hằng. Ông Trăng mới là chuẩn vì ông là chồng của bà Trời.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 18 bình luận

Ngày Giỗ Tổ ở đâu ra?

Trong entry trước tôi có thắc mắc liệu là cái ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 ở đâu ra. Cái thắc mắc nho nhỏ của tôi là vì ngày 10 tháng 3 là ngày vua Khải Định dùng công văn để quy định. Năm vua Khải Định ra cái công văn này là năm 1917. Đồng thời ca dao có câu “nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3”.

Trong cái entry này bác 3 có nói rằng cái câu ca dao kia thực ra là rất mới, có tác giả đàng hoàng, và đăng báo vào năm 193x. Tức là cái câu ca dao ấy thực ra là để tuyên truyền cho cái ngày Giỗ Tổ mà vua Khải Định ấn định cho cả nước. Còn ngày Giỗ Tổ thực, mà nhân dân địa phương khu vực Đền Hùng, vẫn tiến hành cả ngàn (?) năm nay là ngày 11 tháng 3 âm lịch. (Vua cho cả nước làm sớm lên 1 ngày, ngay tại đền Hùng, để sau đấy một ngày thì dân địa phương có thời gian và địa điểm làm lễ của riêng mình). Qua đây cũng thấy cái giải thích của Kim Định về ngày 10 tháng 3 (Tam Miêu – Bách Việt) là bị đổ gãy hoàn toàn.

Thế nhưng, cuối cùng, thì cái ngày 11 tháng 3 âm lịch ấy phải ở đâu ra chứ? Nó phải có ý nghĩa (cho dù là gán ghép) hoặc tốt hơn cả, là nó phải có nguồn gốc thực sự từ đâu đó cội nguồn dân tộc. Thực ra tôi có câu trả lời riêng của mình, nhưng từ từ đã, lát sẽ nói. Thế mới gọi là câu view.
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại nhảm, sách, đời | Thẻ , , | 24 bình luận

Giỗ Tổ (10 tháng 3)

“Những ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.”

“Tháng Năm ngày tết Đoan Dương.
Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”.

***

Đại khái là ngày 10/3 này cũng được quốc lễ hóa chưa lâu lắm. Cụ thể là năm 1917 vua Khải Định mới ký sắc lệnh coi ngày này là ngày giỗ tổ trên cả nước. Công văn của vua Khải Định cũng là dựa vào công văn đề xuất ý kiến của tuần phủ Phú Thọ.

Ngày 10 tháng 3 thì trong ca dao nói đến nhiều rồi.

Nhưng ông Lê Văn Lan nói (từ cái công văn của vua Khải Định ) là ở bia cổ đền Hùng có ghi ngày là ngày 11/3. Sau đó tính toán lịch mới lịch cũ thế nào đấy thì ra ngày 10/3. Cho nên dân cả nước thì giỗ tổ mùng 10, còn dân địa phương vẫn giỗ 11.

Thế nên cái câu ca dao kia ra đời sau năm 1917?!

Còn nếu ra đời trước thì hóa ra cái lập luận của công văn Khải Định mà ông Lê Văn Lan nói lại hóa ra là sai (hoặc ăn theo ca dao nhưng cũng biện chứng tí cho khoa học)?!
Tiếp tục đọc

Đăng tải tại sách, đời | Thẻ , | 2 bình luận