Chủ Tịch Xã North

Như vậy là Quốc Hội đã hoãn thí điểm “dân bầu chủ tịch xã trực tiếp”. Đọc bài của VNN ở đây: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/11/813733/

Đây là một tin rất nhỏ, nhưng thực ra, theo tôi, là tin gây đáng tiếc nhất trong năm nay.

Việc bầu trực tiếp chủ tịch xã không chỉ là tạo một thể chế dân cử – dân chủ ở cấp tổ chức xã hội vi mô mà tác động của nó sẽ lớn và sâu hơn thế rất nhiều trong phát triển kinh tế.

 

Ai đã từng quan tâm đến kinh tế học thể chế (institutional economics) và đặc biệt là hâm mộ tác phẩm của Institutions, Institutional Change and Economic Performance của Douglass C. North (giải Nobel 1991) thì sẽ thấy việc quốc hội hoãn bầu chủ tịch xã trực tiếp sẽ là một việc đáng tiếc như thế nào.

Lý thuyết của North thì hay nhưng khó hiểu vãi lúa, vì nó dùng nhiều kiến thức microeconomics (tức là nhiều toán), lại liên quan nhiều đến lý luận của Ronald Coase và Pareto (là những thứ cũng khó hiểu vãi lúa nữa).

Việc có thể chế để định quyền sở hữu để thúc đấy phát triển (đầu tư nghiên cứu và sở hữu trí tuệ cũng như giải quyết các vấn đề ngoại tác, ví dụ như ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp sản xuất, thì Ronald Coase đã làm xong. (Coase xơi tái giải Nobel năm 1991).

Còn North thì nghiên cứu thể chế ở hai dạng: chính thức (chính quyền địa phương) và phi chính thức (tập tục và truyền thống văn hóa địa phương).

Khác với lý luận cổ điển là cá nhân hành động chỉ vì danh và lợi của họ (utility) thì North cho rằng nhóm cá nhân mới là cái quyết định. Ông không đồng ý với việc những nhà kinh tế học cổ điển gạt ra khỏi lý thuyết của mình những nhóm hành động vì lý tưởng (các phong trào cách mạng), hành động vì niềm tin (các nhóm tôn giáo), các nhóm hành động thiện nguyện …

Từ đó North đã cho rằng hàm khả dụng (để đưa ra quyết định hợp lý) của mỗi cá nhân như trong lý thuyết cổ điển là không đầy đủ. Ông nhận thấy cái hàm này còn bị ảnh hưởng của các yếu tố như đạo đức, ý thức hệ, tập tục, truyền thống văn hóa và tâm lý của cộng đồng.

North đã chứng minh được là thể chế (cả chính thức và phi chính thức) sẽ sửa đổi hành vi của con người. Thể chế giúp con người hiểu hơn về công bằng xã hội, qua đó điều chỉnh hành vi cá nhân và các hành vi tương tác theo xu hướng lương thiện hơn.

Với một thể chế (ví dụ ở cấp vi mô như làng xã) do dân bầu ra thì dẫn đến những hiệu quả rất tốt: con người sẽ bớt hành vi xấu đi, sống lương thiện hơn. Về bản chất là vì nếu họ tin vào thể chế minh bạch và công bằng người ta sẽ bớt ăn cắp đi, làm việc chăm chỉ hơn, bớt dối trá. Ngược lại, thể chế dựng trên nền tảng vi mô như vậy, sẽ bớt chính trị đi. Nôm na là giống như cảnh sát trưởng do dân cowboy miền Tây bầu ra (như ta vẫn xem trong phim Mỹ). Cảnh sát trưởng sẽ hành động vì công lý đúng và sai, chứ rất khó bị mua chuộc. Ngược lại, nhân dân sẽ rất tin tưởng và ủng hộ vị cảnh sát trưởng do họ bầu ra này.

Về hoạt động kinh tế, một thể chế công bằng và ràng buộc (chính thức và chi chính thức) cũng có lợi cho các họat động kinh tế ở cấp xã hội vi mô. Các hộ sản xuất trong xã có thể cùng tẩy chay một đối tác vì đối tác này lừa đảo họ

North cũng chứng minh được chi phí biên và lợi nhuận biên của tổ chức xã hội với thể chế khác nhau là khác nhau. Thể chế sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, năng suất sử dụng nguồn lực (đất, lao động …), tỷ suất lợi nhuận của vốn, chi phí giao dịch …

Là một người rất giỏi món economic history, North đã mô tả vai trò tiến hóa của thể chế và định chế trong phát triển kinh tế và xã hội. North cũng đưa ra những ví dụ hết sức thuyết phục về sự phát triển thể chế ở Tây Ban Nha và Vương Quốc Anh từ thế kỷ 13 cho đến nay. Qua đó người đọc cũng sẽ hiểu tại sao nước Anh ngày nay có những thể chế (nghị viện) vững chắc đến như vậy. North cũng cho người đọc biết vai trò của định chế trong lịch sử phát triển của nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ.

Một thể chế tốt, được xây dựng từ cấp vi mô, sẽ là khung cho các động cơ phát triển kinh tế. Khi các mô thức kinh tế đủ lớn (tới cấp vùng miền) thì biết đâu những gì mà Paul Krugman (Nobel 2008) đã nói đến trong New Trade Theory và New Economic Geography cách đây hơn 20 năm sẽ trở thành hịên thực với một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam (hehe, cái này là 5xu bốc phét thêm, vì sự thực là quốc hội hoãn thử nghiệm bầu chủ tịch xã rồi còn đâu).

Đăng tải tại Uncategorized | 2 bình luận

Xin Lỗi, Tôi Chỉ Là …

 

Ai hay xem TV ngày xưa thì thế nào cũng rất ấn tượng với các quan chức chính phủ Nhật và các quan chức cao cấp của các tập đoàn lớn ở Nhật. Họ làm sai cái gì với đất nước, với quốc dân đồng bào, là họ lên TV xin lỗi rất hăng, xếp hàng cúi gập người như bổ củi.

Đằng sau cái sự xin lỗi này là một nền tảng văn hóa trọng danh dự hơi thái quá. Làm sai với chủ, không hoàn thành nhiệm vụ, bị sỉ nhục, … đều dẫn đến một lời xin lỗi (với người ngoài hoặc với chính bản thân mình) bằng cách tự mổ bụng. Sai mà tự mổ bụng xổ ruột ra ngoài kể ra cũng là một cách hay, mỗi tội hơi đau với lại bị chết.

Cái “văn hóa ứng xử” kiểu Nhật như thế, đã từng gây ấn tượng với rất nhiều dân tộc khác.

Nhưng không có nghĩa là dân tộc nào cũng nên áp dụng cái văn hóa này. Nhất là với dân tộc Việt Nam chúng ta.

Bởi đằng sau cái gọi là “xin lỗi” ở ta chỉ là dăm ba miếng nước bọt. Chứ không phải là một quả tự xử phọt máu hoành tráng như ở Nhật.

Xin lỗi như ở ta, có mà xin lỗi cả ngày cũng được. Làm sai thì xin lỗi, có cái đéo gì mà phải lăn tăn.

Ấy vậy mà một lọat các chú nhà báo ở Việt Nam, tung hô cái việc xin lỗi, còn bơm vá lên thành “văn hóa ứng xử”. Mẹ, các chú nhà báo lắm chữ mà có tư duy kiểu kiss-ass đầy tớ của nhân dân như vậy thì quốc dân đồng bào còn khổ dài dài.

Vả lại, nhân dân có cần ai xin lỗi đâu. Nhân dân cần những đầy tớ mẫn cán, làm việc hết mình, nếu sai thì tự tát vào mồm mình rồi về quê chăn vịt. Xin lỗi mà làm cái gì khi mà tiền thuế của nhân dân trôi theo nước lũ.

Cái việc xin lỗi, xét cho cùng, là rất cần thiết, nhưng chỉ xin lỗi (hết sức chân thành) với người thân của mình mà thôi. Chỉ đối với bạn bè, gia đình ruột thịt, thì lời xin lỗi dù chỉ bằng miệng mới có giá trị. Còn với cộng đồng, xã hội, đất nước, dân tộc… thì xin lỗi chỉ là trò hề bởi xin lỗi có lấy lại được tiến thuế trôi ra biển đâu.

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Xin Lỗi, Tôi Chỉ Là …

Obama và Chúng Ta

Hôm nay phá lệ, copy 1 bài của người khác lên blog. Bài này là của một bạn tên là Quốc Anh (tiến sỹ kinh tế phát triển, đại học Harvard). Bài được post trên diễn đàn tathy với nick Noy. (Ngoài ra có thể đọc các bài tiếng Anh của Noy ở blogg của bạn này, có tên là Tề Phi).

Mặc dù 3 bài viết này được QA post trên tathy trước bầu cử, nhưng các phân tích cơ bản vẫn hết sức chuẫn (chuẫn là tiếng Việt cổ, hehehe):

***

Các bác bàn chuyện bầu cử vui nhỉ, nghe cứ như Fox.

Thứ một, hiện giờ thị trường đang ước tính khả năng Obama thắng là 85% (Intrade) hay thậm chí còn cao hơn nữa (Betfair, Iowa U vv.) Thường số liệu này chính xác hơn poll. Dĩ nhiên 15% xác suất của McCain không có nghĩa là không có cửa thắng. Nhưng mà để so sánh, hiện giờ William Hill đánh West Ham thắng Arsenal chủ nhật này là 5/1, còn dễ ăn hơn McCain (85/15 = khoảng 5.7). Obama thì ngang với Arsenal thắng hoặc hòa. Tức là vẫn có cơ McCain thắng, nhưng mà cửa hẹp.

Thứ hai là Tổng thống Mỹ nói chung không ảnh hưởng nhiều lắm đến kinh tế đâu, vui quá hay buồn quá làm gì hả các bác. Có điều hiện giờ 2 viện chắc rơi vào tay Dân chủ rồi, thành ra nếu Obama được nữa thì tha hồ ra uy chính sách. Nói về ảnh hưởng đến Việt Nam, ngoài chuyện sức ép chính trị ngoại giao tôn giáo báo chí vv. không nói đến làm gì (vì đếch biết nói gì), chuyện kinh tế thì có hai hướng chính.

Thứ một, Mỹ càng tự do thương mại thì càng nhiều người Việt được hưởng. Phe Cộng hòa có khuynh hướng tự do thương mại rõ hơn phe Dân chủ. Gì thì nói, trong 8 năm làm Tổng thống anh W. thành công tương đối nhiều trong việc thúc đẩy tự do thương mại (chuyện này dài, nếu cần thì tranh luận sau.) Obama thì có khuynh hướng bảo hộ hơn McCain (chuyện này thực hư thế nào cũng dài nốt.) Tuy vậy, vật cản chính của tự do thương mại lại là 2 viện, nhất là viện Hạ. Sắp tới phe Dân chủ sẽ nắm quyền sinh sát hoàn toàn ở 2 viện, thì Obama hay McCain cũng không tránh khỏi xu hướng bảo hộ. Nhất là mỗi khi có khủng hoảng tài chính/kinh tế người ta càng có thiên hướng bảo hộ thương mại nữa. Thành ra hy vọng cho nhà xuất khẩu Việt Nam (cùng với người sản xuất, làm công ăn lương vv.) là mịt mùng, dù cho McCain có thể giúp được ti tí chút chút.

Thứ hai, kinh tế Mỹ hồi phục càng nhanh thì thế giới hồi phục càng nhanh. Thế giới hồi phục càng nhanh thì người Việt Nam càng đỡ khổ. Hiện giờ Mỹ vẫn chưa chính thức vào suy thoái, cộng thời gian suy thoái và thời gian ra khỏi suy thoái vào thì cũng còn lâu. Trong thời gian đấy, anh Tổng thống nào khéo làm kinh tế hơn thì rút ngắn thời gian suy thoái đi. Về kinh tế, McCain vốn không khéo, người xung quanh McCain thì khéo, nhưng cộng với ảnh hưởng chống đối của hai viện thì thành ra kế hoạch kinh tế sẽ bị trì trệ hỏng hóc hết. Rốt cuộc có khi lại không bằng anh Obama: anh Obama vốn khéo hơn McCain, nhưng người xung quanh trợ giúp thì không tốt bằng phe Con voi, có điều lại dễ dàng dẫn 2 viện hơn. Chính sách chắc cũng theo khuôn phép cũ thôi, McCain thì cắt thuế, Obama thì tăng phúc lợi, cả hai anh đều vướng cái món nợ anh W. để lại nên không mạnh tay làm cái gì được, rồi rốt cuộc cũng lại nhờ tay bác Ben bên Fed thôi (hy vọng bác Ben vẫn còn ghế). Thế thôi, ảnh hưởng qua Việt Nam thế nào thì cũng cứ theo đúng chu kỳ, tổng thống nào cũng không thay đổi được mấy.

Tạm thế ạ, viết tí tẹo mà cứ một hai một hai thế này chán chết.

***

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Obama và Chúng Ta

Tâm Sự Rùa!

Mưa ngập cả Hồ Gươm.

Cụ Rùa (duy nhất còn lại) bò lên đường Đinh Tiên Hoàng chơi, nhân tiện theo làn nước ra luôn sông Hồng, không thèm quay về cái ao tù cho bõ mấy trăm năm bó gối thò đầu cho trẻ con ngắm.

Đi qua cái nhà to, cụ rùa thấy một cụ trung niên mặc com lê quần đùi đang phàn nàn với một lũ đeo thẻ nhà báo rằng dân mình dạo này ỷ lại nhà nước quá, không có chịu vận động gì, nước đến chân mà cứ chờ cứu hộ.

Cụ rùa bụng bảo dạ, thế thì tệ quá, phen này cụ bò mẹ hẳn ra biển cho bõ ghét.

Xong bò qua tượng Lý Thái Tổ một đọan thì cụ rùa nghĩ lại: dân thì vạn đại, mình đã lỡ sống với dân cả ngàn năm rồi, mấy cụ mặc com lê kia thì được mấy năm, thôi thì ở lại cho nó trọn cái tình rùa.

May quá, nhờ cái cụ mặc com lê mắng dân ỷ lại kia, không thì tí nữa thủ đô 1000 năm đến rùa cũng chả còn. May thật.

PS: Cám ơn bạn Huy Cận đã dũng cảm dắt cụ rùa qua đường. Tí nữa thì bị xe nó kẹp chết.

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Sự Rùa!

Tổ Con Chim Nhại

 

Tổ con chim nhại là cái vành móng ngựa. Nghe buồn cười nhỉ. Nhưng mà có lý đấy. Các bác bình tĩnh để em giải thích.

Con chim nhại là một con chim họ nhà sáo. Chắc nó giống giống con chim yểng hay chim nhồng ở Việt Nam.

Cuốn sách “To Kill a Mockingbird” được các dịch tác gia của Nhã Nam dịch ra là “Giết Con Chim Nhại”. Kể ra thì cũng được. Nghe nó đỡ bản địa hơn là “Giết con trym nhồng”. Nghe hãi quá. Nhưng em mà dịch cuốn này, em sẽ dịch thế đấy, ngoài ra em còn dịch kiểu trẻ con cà tưng nữa. Thế nó mới hay. Bản dịch của Nhã Nam giọng văn già lụ khụ, có chỗ còn móm mém, câu văn đâm ra tối tăm, đọc mấy lần mới đoán ra ý tác giả, hehehe, quá là đọc sách trinh thám.

Mockingbird (chim nhại) nhờ cuốn tiểu thuyết này mà tự nhiên trở thành hình ảnh của cái sự gọi là innocent. Giết con chim nhại là giết đi cái sự innocent. Quan trọng hơn, giết con chim nhại là việc làm tội lỗi. Nhiều bác blogger cứ phét lác về cái sự ngây thơ đâm ra khi anh Hải và anh Chiến bị bắt, các bác cứ lải nhải cái vụ “giết con chim nhại”. Anh Hải với anh Chiến mà là biểu tượng của “innocent” thì cả cái nước này trong và trắng còn hơn cả pha lê. Phét lác cũng phải có giới hạn đạo đức chứ.

Nhiều bác có thái độ khá phẫn nộ hoặc bi quan về phiên tòa xét xử các bác Chiến Hải Quắc, nhiều bác còn khen chê anh Hải với anh Chiến. Ý kiến cứ gọi là đa chiều. Em thích nhất là các bác khen anh Chiến anh hùng. Bây giờ cho các bác vào cái vành móng ngựa đấy để các bác thành anh hùng xem các bác có dám không. Lại chả ngây thơ cụ tốc độ cao rồi nhận tội xong về nhà ôm vợ cho nó chóng. Xã hội toàn anh hùng rơm với tiến sỹ giấy, đéo nghèo nàn lạc hậu mới là lạ.

Em thì thấy cái vụ án bắt đầu từ cái chiếu bạc ở công viên, vắt qua PMU18, rồi đến tận tướng Quắc đầu bạc phơ, lại mang đến nhiều tín hiệu tích cực. Các bác hết sức lưu ý chỗ này: không phải là tín hiệu tốt hay xấu, mà là tích cực.

Nếu các bác chịu khó ngâm cứu sự vận động và tiến hóa của xã hội thì các bác sẽ thấy xã hội mình mấy trăm năm nay chưa bao giờ tiến hóa cả. Bởi tiến hóa của xã hội nó bao gồm 2 phản ứng rất quan trọng là phản ứng với các thay đổi bên trong và phản ứng với các thay đổi bên ngoài. Bản chất của các phản ứng thì mang nặng tính văn hóa và tâm lý. (Cái này là sách nói, không phải em nói, các bác không nghe xuôi tai thì đừng có nhảy lên).

Từ thời Nguyễn đổ về trước thì nói chung nước ta là nước phong kiến. Dù có tự chủ hay không tự chủ thì cũng là thể chế phong kiến. Khoa học và công nghệ của chúng ta còn là zero nữa. Nên các thay đổi nội tại và thay đổi ngoại tác gần như là chả có mấy.

Thời Nguyễn chưa kịp suy tàn hẳn (để qua đó tạo ra thay đổi nội tại, và biết đâu phản ứng với sự thay đổi này khiến chúng ta nhảy từ phong kiến lên tư sản cộng hòa) thì Pháp nhảy vào. Đâm ra từ lúc đó cho đến 1954 xã hội chúng ta chỉ có một loại phản ứng chủ đạo là phản ứng với thay đổi bên ngoài (react to outer changes) và hoàn toàn thiếu vắng phản ứng với thay đổi nội tại (react to inner changes). Từ 1954 đến 1991 thì tình hình còn có vẻ monotone hơn nữa khi mà còn không có cả thay đổi ngoại tác (outer changes) để mà phản ứng.

Từ năm 1994 đến nay, tức là ngày đổi mới kinh tế thực sự có tác động vào nền kinh tế, cộng với sự hội nhập do thúc đấy của WTO, xã hội Việt Nam mới bắt đầu mới có outer changes để mà phản ứng. Những phản ứng ban đầu thụ động, sau hơn 10 năm, đã dần dần chủ động và mạch lạc hơn.

Vụ PMU18 (bắt đầu từ vu đánh bạc của công an Hưng và kết thúc bằng sự ra tòa của thiếu tướng Quắc) kéo dài ba năm, lại đúng vào thời điểm bùng nổ của truyền thông (hàng trăm báo in và báo điện tử bị kéo vào dòng thác này) và sau đó là thời điểm bùng nổ của internet băng thông rộng. Lần đầu tiên chúng ta thấy có nhiều luồng ý kiến, nhiều luồng tình cảm, nhiều luồng thái độ từ nhiều nhóm xã hội khác nhau đến như thế. Chúng ta cũng thấy những ý kiến, tình cảm, thái độ của những nhóm người này thay đổi theo thời gian và diễn biến của vụ án. Rồi interaction của các nhóm với nhau. Kết quả cuối cùng là dần dần xã hội đã có những nhóm hành vi khác nhau.

Sau bao nhiêu năm xã hội ta không có identity (em cứ dùng tiếng Anh cho chắc, nói tiếng Việt các bác lại bảo em là chê xã hội mình không có bản sắc), nói đúng hơn là có nhõn một identity (nhạt nhòa) để dùng chung cho tất cả các nhóm, nay chúng ta bước đầu đã có được các identities khác nhau, ứng với các nhóm xã hội khác nhau, rồi các các nhóm này lại có behavior khác nhau. Thật là tuyệt diệu. Đó là nhờ tướng Quắc, anh Hải, anh Chiến, anh thứ trưởng Tiến, anh công an Hưng.

Sau bao nhiêu năm chúng ta đẻ ra đã sống với định kiến, nay ta đã bắt đầu khá hơn khi biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến và cảm xúc của người khác. Sau bao nhiêu năm các nhóm xã hội ở cái đất nước này không thèm quan tâm đến ý kiến và cảm xúc của nhóm xã hội kia, nay đã bắt đầu biết lắng nghe và tôn trọng. Thật là kỳ diệu. Đó là nhờ các anh Quắc, Việt Tiến, Hải, Chiến, Hưng.

Khi con người đã bớt định kiến thì một xã hội dân sự văn minh đã bắt đầu hình thành.

Từ văn minh đến dân chủ còn xa.

Từ dân chủ đến công bằng còn xa nữa.

Nhưng cái qué gì cũng phải có sự bắt đầu. Cũng như để có con chim nhại ra đời thì phải có cái tổ chim.

Cái tổ chim lần này có thể chính là cái vành móng ngựa.

PS. 1: Quên mất, tất cả các anh không nợ ai lời xin lỗi nào cả. Việc đéo gì phải nợ thằng nào. Xã hội còn đang nợ các anh một lời cám ơn vì cái sự văn minh nhen nhóm kia kìa. Hehehehe.

PS. 2: Cuốn con chim nhại tuy tiếng Việt rất tối nghĩa nhưng lại là một cuốn sách rất rất nên đọc.

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Tổ Con Chim Nhại

Bailout Plan và Việt Nam

 

Tình hình là cả tuần rồi lọ mọ đọc các bài viết về finacial crisis và bail-out plan. Nói chung là có nhõn một bài đọc thích, là bài Notes on Fiscal Crisis and Bailout của R.D. Congleton (GMU). Cám ơn bạn Noy (Quốc Anh) đã xì cho bài này để mà đọc. Ngoài ra trên Minh Biện có mấy bài rất là buồn cười. Có tác giả bên Minh Biện còn hiến kế cho chính phủ Mỹ là dùng 700 tỷ của Paulson plan ở dạng bond để làm balance sheet trở nên đẹp. Đọc cười chết luôn. Thế mới biết kiến thức, đầu tiên, là phải không được hổng đã, còn cao siêu đến đâu thì tính sau.

Thú vị nhất là cái việc crisis này bắt nguồn từ sự phồn thịnh kéo dài của nền kinh tế + xu hướng chính phủ nhỏ (tư hữu hóa định chế lớn + khuyến khích tăng sở hữu bất động sản tư nhân). Cuối cùng nạn nhân lại chính là private sector và tax payer khi mà cuối cùng thì chính phủ phải can thiệp thô bạo bằng cách quốc hữu hóa định chế và mua lại tài sản xấu với giá cao (có thể phát sinh tham nhũng). Từ câu chuyện dài dòng, phức tạp và thú vị này, có thể ‘gán ghép’ nhiều ý kiến hay ho cho Việt Nam.

Nguyên nhân đổ vỡ tài chính thì nhiều và phức tạp, nhưng nhìn sơ sơ vào có thể thấy mấy điểm rất thú vị (thú vị đến mức buồn cười). Tất cả đều liên quan đến định chế và thể chế. (Tiếng Anh thì giống nhau, nhưng với tổ chức tài chính thì tôi dùng từ Định Chế, còn với cơ quan lập pháp thì dùng từ thể chế. Lý do là thấy người ta dịch từ này lung tung cả, không nhất quán. Còn nếu thích dịch cho luật thực thi nữa thì dùng từ Thiết Chế cho nó cứng rắn, hehehe).

+ Sau WWII thì kinh tế Mỹ phát triển ngọan mục, người dân giàu lên, và sở hữu bất động sản tư nhân cũng tăng lên (giống VN sau thời kỳ đổi mới chưa)

+ Đầu tiên thì gười dân tiết kiệm và mua nhà như bình thường bằng sự tích lũy tài chính tự nhiên + với giảm giá bất động sản thông qua định chế Fanny Mae (thành lập năm 1938)

+ Sự tăng trưởng ham muốn sở hữu nhà bắt đầu tăng mạnh trong những năm 1960 (tương ứng với hịên tượng bđs 1997-2000 ở VN). Sự tăng trưởng này đẻ thêm ra một định chế nữa là Freddie Mac nhằm tăng thêm các khoản vay và bảo lãnh vay bất động sản, lôi kéo thêm nhiều nhà đầu tư BĐS vào thị trường thứ cấp (giống VN thời kỳ 2002-2007 chưa, khi mà dân buôn BĐS có thể vay vốn vô tư để chiến). Freddie Mac ra đời năm 1970

Như vậy là người dân Mỹ có thể mua nhà không chỉ bằng tiền tiết kiệm mà còn bằng thu nhập tương lai nữa.

Trước 1968 thì Fannie Mae là độc quyền có hỗ trợ của chính phủ trên thị trường nhà đất. Đến 1968 thì bị tư nhân hóa (privatized) đồng thời có thêm sự ra đời của Freddie Mac để cạnh tranh cho vui.

Sự tư nhân hóa này chỉ là tư nhân hóa về vốn, pháp lý này nọ. Còn về tâm lý thì tất cả vẫn nghĩ 2 định chế khổng lồ này là của nhà nước, hoặc được chính phủ bảo hộ trong mọi trường hợp. Tâm lý này giống VN quá. Và đây chính là cái sự buồn cười của việc Mỹ tư hữu hóa Fannie Mae để rồi mấy chục năm sau (2008) lại phải bỏ tiền ngân sách ra chén lại 2 định chế khổng lồ này (tốn mất của ngân khố quốc gia tầm 200 tỷ) cùng với sự đổ vỡ của hệ thống tài chính liên quan đến bất động sản.

+ Sau đó thì các thể chế như Quốc Hội và các chính quyền Clinton và Bush còn cố ý khuyến khích sở hữu bất động sản tư nhân hơn nữa. Năm 2004 thì tỷ lệ sở hữu tư nhân về nhà ở ở Mỹ lên đỉnh cao (69.2%). Ở VN thì chưa rõ sở hữu nhà tư nhân đã lên đến đỉnh cao chưa. Có khi rồi cũng nên.

Người dân muốn sở hữu nhà, quốc hội và chính quyền khuyến khích, chính là cái động lực tạo ra bong bóng bất động sản.

Còn cái bơm thổi quả bóng này lên là hệ thống tín dụng.

Việc người ta nghiễm nhiên cho Fannie Mae và Freddie Mac là an toàn dẫn đến risk premium bé lại, thậm chí bé hẳn đi tới 50% (từ 2% xuống 1%). Và làm discount rate cho cash flow giảm từ 6% xuống 5% (tức là giảm 20%). Việc này tự động làm cash flow tăng giá lên so với chính tài sản đảm bảo. Khi bong bóng vỡ thì lại ngược lại, giá trị ngân lưu lại bé tí so với giá trị bất động sản cầm cố.

Bây giờ bỏ vào 700 tỷ, tiền sẽ là từ bond, tức là lãi suất thương mại sẽ tăng, và private sector bị chèn vỡ mặt. Chủ nghĩa tư bản ở Hoa Kỳ quả này chắc sợ nhà nước vãi lúa. Còn chính phủ cũng sợ, nhưng mà có quyền chi tiền nhiều hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử.

Riêng đọan này thì ở VN lại nhẹ đầu hơn. Lý do cơ bản là dân tài chính ở VN chỉ đếm tiền giỏi chứ tính tiền quá kém. Nên tài chính ở VN quá ư là lạc hậu và kém hội nhập (đôi khi dốt lại tốt). Đâm ra bất động sản ở VN mà thế chấp thì vay dưới giá trị thực một khúc. Còn ở thời điểm BĐS nóng thì ở dưới giá thị trường rất xa. Cái sự an toàn này cũng có thể bắt nguồn từ những bài học cay đắng mà ngân hàng gặp phải ở những năm 1996-1998.

Câu chuyện kể trên hy hệt như là câu chuyện thầy giáo dạy cơ cổ điển hồi đại học của tôi kể. Thầy kể chuyện ngoài lề, đại khái là các nền văn minh có tính chu kỳ. Nhiều khi ta chẳng cần cố làm gì, cái thằng văn minh hơn ta, nó đi một vòng rồi lại ở sau đít ta. Kiểu như bố mày không khuyến khích tư nhân, còn mày thì tư nhân hóa bét nhè, rồi bây giờ cũng quốc hữu hóa khác chó gì tao. Kiểu như tao cứ farming thế này thôi, chúng mày cứ làm vũ khí nguyên tử, bắn nhau 1 hồi, rồi lại về cầy ruộng như tao.

Nhưng đấy chỉ là hiện tượng. Cái mà nước Mỹ thụt lùi về thể chế chỉ là hiện tượng. Bong bóng bất động sản ở Mỹ và VN giống nhau ở hiện tượng. Vay (dễ) ngân hàng để đầu tư BĐS nhằm kiếm lợi nhanh cũng chỉ là giống nhau ở hiện tượng. Khủng hoảng tín dụng (vay khó, lãi cao) cũng chỉ giống nhau ở hiện tượng. Ham kiếm tiền dễ, không thích tích lũy mà thích vay để tiêu xài và mua nhà đẹp cũng chỉ giống nhau ở hiện tượng.

Còn bản chất thì cực kỳ khác nhau. (Khác nhau thế nào thì các bác tự tìm hiểu lấy, em mệt lắm, ko muốn giải thích). Do đó cái sự bệnh tật nó cũng sẽ khác nhau. Giống như hai bệnh nhân cùng bị ho. Thằng Mỹ ho ra cả máu nhưng là do nó viêm phổi cấp. Ta cũng ho ra cả máu, nhưng mà là ho lao. Ở Mỹ giảm rate đi 1%/năm là câu chuyện khác hẳn. Còn ở ta, cho giảm mẹ luôn 10% năm vẫn chưa thấy gì. Ở Mỹ có 700 tỷ mà hai viện bàn lên bàn xuống, nghị sỹ 2 đảng rỉa nhau chết thôi. Ở ta mà thế, quyết cái rọet. Nhân dân đỡ phải nghe debate đau đầu.

Thế còn ảnh hưởng của Mỹ tới ta thì thế nào? Chắc là có ảnh hưởng, nhưng sâu đến đâu và lâu đến đâu thì khó trả lời. Vì VN mình hội nhập kém (may quá), nhất là hội nhập tài chính kém (may quá). Nên chắc là chưa sâu lắm (vướng bao cao su). Còn lâu hay không thì cũng là do … cơ địa. Hehehehe.

Nhưng sẽ có ảnh hưởng thế này:

+ Tỷ giá (may quá, Mỹ mà yếu đi + 700 tỷ, có khi tỷ giá mình bớt sức ép, việc ổn định tỷ giá theo kiểu fix như VN sẽ bớt vất vả cho chính phủ)

+ Xuất khẩu hàng hóa: may quá, Mỹ chưa phải thị trường dominate doanh thu xuất khẩu của ta. Nhưng về lâu dài, xuất đi Mỹ mà (vì lý do này) mà dẫm chân tại chỗ hoặc kém đi thì sẽ là vấn đề lớn. Gì thì gì nó vẫn là thằng giàu, ăn tiêu vẫn cứ gọi là hoang đàng nhất xóm.

+ Xuất khẩu lao động: mặc dù VN chưa xuất được đi Mỹ mấy, vì quá khó, nhưng thất nghiệp ở Mỹ tăng thế này, sẽ còn xuất khó hơn.

+ Đầu tư nước ngoài từ Mỹ vào VN: chắc chắn là giải ngân chậm hoặc rất chậm.

+ Sinh viên VN đi Mỹ học: khó hơn. Vì dân Mỹ cũng sẽ đi học rất nhiều. Giống năm 1998, nhiều chú Mỹ ở VN mà còn bỏ về nước đi học MBA vì làm ăn khó quá.

+ Cuối và quan trọng nhất: chính khu vực tư nhân ở VN sẽ bị chèn ép khốc liệt. Và điều này sẽ rất là không tốt cho nền kinh tế của VN trong tương lai.

Chú thích: Ảnh trên là cháu Anna, con gái đầu của nhạc sỹ Anh Quân. Ảnh copy từ Vnexpress. Nếu chẳng may mà gặp Quân – Linh sẽ gọi bằng chú và cô.

Đăng tải tại Uncategorized | 1 bình luận

Entry for September 30, 2008

Thực ra tôi có rất rất rất nhiều bạn thân là người Công Giáo. Nhưng họ đều là dân công giáo 54. Đặc điểm chung của những người bạn này đều là: cởi mở, hòa nhã, lễ phép, biết chơi một nhạc cụ gì đó, hầu hết là biết một hoặc hơn một ngoại ngữ (kể cả các bạn nghèo và lớn tuổi). Không có ai có tư tưởng chống cộng cực đoan (bằng chứng là chơi thân với 5xu, hehehe, bắc kỳ đỏ rực).

Nhưng thật thà mà nói thì tôi không cảm tình với công giáo bắc kỳ lắm. Tại “sơ yếu lí lịch” của công giáo bắc kỳ có nhiều yếu tố phục vụ quân đội viễn chinh Pháp và chính quyền thuộc địa. Ngay cả công giáo sau 1954 ở miền nam thì ông Ngô Đình Diệm cũng pro quá đáng, gây quá nhiều ức chế cho cả bên Phật giáo lẫn Lương giáo.

Tất nhiên nhìn vào sơ yếu lí lịch mà đánh giá thì không fair. Nhưng có ai trên đời này không đánh giá người khác bằng cách xem quá khứ của người ta không?

Quay lại sự vụ 42 Nhà Chung. Ít người chịu khó nhìn nhận vụ tranh chấp này theo chiều dọc của lịch sử. Nếu chịu khó nhìn theo chiều lịch sử thì khu đất Nhà Chung có một số điểm nhấn quan trọng. Nhưng trước hết nhắc lại lịch sử một chút:

+ Pháp chiếm nước ta. Trước hết chúng chiếm Nam Kỳ. Sau hòa ước 1862 ký với triều đình Huế thì ngòai các tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa của Pháp thì Pháp đạt được một mốc quan trọng trong hiệp ước này, đó là việc tự do truyền đạo thiên chúa và buôn bán trên toàn cõi Việt Nam (Nam Kỳ thuộc Pháp, Huế và Bắc Kỳ là của nhà Nguyễn).

+ Sau đó Pháp đánh Bắc Kỳ. Đánh hai lần. Lần một là Francis Garnier đánh thành Hà Nội, bắt Nguyễn Tri Phương (ông này sau tuyệt thực chết). Lần hai là Henri Riviere đánh Hà Nội, lần này Hoàng Diệu treo cổ tự sát.

+ Cả hai lần thì quân Pháp đều dùng thông ngôn là một cố đạo (linh mục) người Pháp có tên là Puginier (cha Phước??). Nhờ việc làm thông ngôn mà Puginier được Garnier cho mở nhà thờ nhỏ bằng gỗ chung với doanh trại tạm của quân đội Pháp trong khuôn viên chùa Báo Thiên. Sau đó nhà thờ nhỏ này được xây thành nhà thờ lớn Hà Nội như bây giờ.

+ Sau khi chiếm được Bắc Kỳ thì nước ta chia thành ba vùng rõ rệt: Thuộc Địa (Nam Kỳ), Bảo Hộ (Bắc Kỳ) và Đế Chế An Nam (Empire of Annam), chính là triều đình Huế.

Các điểm nhấn ở Nhà Trung như sau.

+ Trước khi Pháp đánh Hà Nội thì Hà Nội là cái làng khổng lồ. Sau khi Pháp chiếm và quy họach xây dựng mới hình thành đường phố này nọ. Trong đó có Phường Báo Thiên biến thành khu Nhà Chung.

+ Việc chiếm khu đất này được một việt gian là Tuần phủ Nguyễn Hữu Độ hợp pháp hóa bằng cách xui dân công giáo ở phường Báo Thiên viết đơn xin dọn dẹp chùa Báo Thiên đổ nát.

+ Khâm Sứ (delegate) Tòa Thánh phụ trách xứ Annam lúc đầu là một vị khâm sứ phụ trách Đông Dương. Văn phòng (Tòa) Khâm Sứ đặt ở thủ đô, tức là đặt ở Đế Chế An Nam, tức là Huế, cụ thể là ở Phủ Cam.

+ Đến năm 1945 nước Việt Nam độc lập, Hà Nội trở thành thủ đô. Do đó Tòa Khâm mới chuyển ra Hà Nội vào năm 1951.

+ Sau năm 1954 thì Vatican cương quyết không chấp nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khâm sứ chạy vào Nam. Để một ông khác lên làm Quyền Khâm Sứ.

+ Tất nhiên là chính phủ VNDCCH không thể chịu nổi cái kiểu trẻ con ấy, liền trục xuất nốt cái ông quyền khâm sứ kia và tịch biên tòa khâm sứ (1959)

Như vậy là trước khi Pháp đánh Hà Nội thì hoàn tòan không có khu Nhà Trung. Và sự hiện diện của Khâm Sứ Tòa Thánh ở Hà nội chỉ vỏn vẹn có mấy năm (1951-1959). Trong đó có thời gian sau 1954 thì vị khâm sứ này, như là một liên lạc viên của Tòa thánh Vatican ở Hà nội, luôn chối bỏ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngay cả giáo hoàng đương nhiệm, đợt vừa rồi đi Úc, lúc gặp Việt Kiều cũng quấn cờ vàng ba sọc chứ không quấn cờ đỏ sao vàng, tức là vẫn có ý chối bỏ nhà nước Việt nam hiện nay. Thật là hài hước hết sức. Ai dám nói là tôn giáo phi chính trị nữa nào.

Như vậy, xét về mặt sơ yếu lí lịch thì Ki Tô Giáo ở Việt Nam quá non trẻ so với Phật Giáo. Chưa kể là còn có quá nhiều phốt.

Có lẽ ngày xưa khi Phật Giáo du nhập vào Giao Chỉ cũng phải trải qua rất nhiều sự thanh lọc khắc nghiệt thì mới bản địa hóa được. Sự thanh lọc khắc nghiệt ấy đã biến Phật Giáo thành một tôn giáo bản địa không chỉ có vai trò tâm linh mà còn có vai trò truyền bá trí thức, lòng yêu nước, sức mạnh chống ngoại xâm (xem thêm cái Thiền Tông Việt Nam). Vua Lê ngày xưa sùng đạo Phật nhưng mà cần ra trận là cầm gươm đâm chém ra trò. Hết binh đao thì lại quay lại hiền lành tu tập. Đúng là “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Ki Tô Giáo thì ngoài sự thanh lọc thời nhà Nguyễn thì sau đó quá được ưu ái. Từ quân đội viễn chinh Pháp đến chính quyền Ngô Đình Diệm ưu ái hết lòng, muốn gì được nấy. Đời đúng là có lúc nọ lúc kia, cứ thấy lúc kia mà đòi cho lúc nọ thì khó mà có được cái sự công bằng.

Quá khứ luôn vọng về tương lại. Tương lai luôn có hình bóng quá khứ. Ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử của mình người ta luôn thấy sự thất bại của tất cả các phong trào dựa hơi ngoại bang. Chưa một lực lượng chính trị xã hội nào mượn thế và lực của ngoại bang mà thành công ở Việt Nam. Thất bại của mọi thế lực vọng ngoại phần lớn là do sự thanh lọc khá quyết liệt và tàn nhẫn của dân tộc Việt. Phật Giáo, với vai trò cả tôn giáo lẫn triết thuyết, đã vượt qua sự thanh lọc ấy chính là nhờ vào sự cởi mở và không đố kị của mình.

Ngoài việc sớm du nhập vào Việt Nam và đồng lòng với dân tộc suốt chiều dài lịch sử, một trong những lý do mà Phật Giáo được người Việt chấp nhận đó là vì tôn giáo này rất phi tập trung và không sùng bái bất cứ một cá nhân nào. Không những thế, ngoài Thích Ca và rất nhiều vị Bồ Tát, Phật Giáo khi vào VN còn ‘nhận thêm’ kha khá nhiều vị thần bản địa (Mây Mưa Sấm Chớp) và các vị thần có tính dị đoan địa phương (saman giáo) như đức ông này bà chúa kia. Cũng có thể là ở đây có side-effect là người Việt sẽ dị ứng với các tôn giáo hoặc chủ nghĩa nào đó có tính sùng bái một cá nhân phi thường, đặc biệt là dị ứng với bất cứ tôn giáo hoặc chủ nghĩa không những không chịu bản địa hóa mà lại còn thanh lọc đồng bào mình. Lịch sử phật giáo VN cận đại cho thấy chính lực lượng Phật Giáo là lực lượng chống ngoại xâm (cả văn hóa và quân sự) và chống độc tài bền bỉ và mạnh mẽ nhất. Chỉ có khác xưa một chút là súng gươm vứt bỏ thì không hiền như xưa nữa mà chuyển qua ăn chơi tham nhũng bợ đít chính quyền và bọn trọc phú hehehehe. Thế nên sư bây giờ mới có khái niệmlà sư tham nhũng với sư chạy chức. Sư trụ trì các chùa bây giờ chả khác gì đi làm giám đốc cơ quan nhà nước, hehehe. Đất nước cứ thế, bão lụt thiên tai nó mới nhiều.

Đăng tải tại đạo, đời | 2 bình luận

Lúc Nọ Lúc Kia

 

Hôm trước có một người bạn phàn nàn rằng thì kinh tế khó khăn, hàng bán chậm, tồn kho nhiều, bị khách nợ nhiều. Đã thế lại mới có quả “nhập khẩu tự động” của Bộ Công Thương, nhập hàng phải đi xin phép (anh bạn này bán máy tính). Chả bù cho năm ngoái, bán laptop chạy như tôm tươi.

Tôi mới bảo: thì đời có lúc này lúc kia, nghĩ đến lúc kia mà sống.

Nhiều người phàn nàn bảo báo chí giờ giống nhau, đọc toàn tin lá cải, hoa hậu với lại sầu riêng, tăng thanh hà với lại khóc lóc.

Chả lẽ lại phải bảo: báo chí có lúc nọ lúc kia, nghĩ đến lúc phải đọc báo toàn cứt đái phe phái đánh đập hạ bệ bôi xấu lẫn nhau với cả cướp giết hiếp để mà thấy bây giờ đọc báo lá cải thế này cũng có cái lợi là đỡ bẩn mắt.

Nhiều người bảo, anh Xu toàn chê khựa, cái dân tộc của anh có hơn gì đâu, có cái gì để tự hào đâu.

Chả lẽ lại phải bảo: mẹ, chỉ có bọn trọc phú bẩn nó mới tự hào khi mà nó có cái gì đó hơn người khác.

Một người bình thường có nhiều cái để tự hào. Họ có thể tự hào vì bố mẹ họ là những người lương thiện. Họ có thể tự hào vì bản thân họ là người chăm chỉ lao động, hiếu học và biết trân trọng đồng tiền. Họ có thể tự hào rằng họ nghèo mà con cái họ lễ phép và được học hành tử tế.

Cần đéo gì phải hơn người thì mới vỗ ngực tự hào. Tự hào kiểu ấy người ta gọi là vênh váo.

Dân tộc cũng thế thôi. Nếu một dân tộc biết tự hào vì sự lương thiện, sự cần cù lao động, đồng bào biết yêu thương đùm bọc nhau, thì mới là dân tộc có sức mạnh. Chứ không phải có công nghệ hạt nhân như Bắc Hàn, có thằng chạy nhanh như Bolt, hay có thằng diễn trò hay như Trương Nghệ Mưu thì mới có cái để tự hào.

Mà nghề báo cũng thế thôi. Đâu cứ phải viết đấu tranh chống tiêu cực, đăng bài điều tra chống tham nhũng mới là làm báo giỏi. Một tờ báo đâu cứ phải giương cờ đấu tranh lằng ngoằng thế lọ thế chai mới là tờ báo hàng đầu của nghề. Tổng biên tập đâu cứ đăng bài chống tiêu cực mới gọi là dũng cảm.

Không được nói thẳng thì châm biếm đả kích cũng là dũng cảm. Thậm chí còn là thông minh, giỏi. Như tờ Tuổi Trẻ Cười ngày xưa vậy. Tất nhiên nói vòng vo chả có hay ho gì, nhưng còn hơn là ngậm hột thị.

Có những thời điểm không nên nói gì có khi cũng là dũng cảm. Và sáng suốt.

Bởi làm báo cũng có lúc nọ lúc kia. Bắn súng thì cũng có lúc nghỉ để lên đạn. Nữa là cầm bút mỏi tay.

Chỉ có mấy thằng hay nổ thì lúc đéo nào cũng nói được.

Không nhất thiết phải có bài báo xé rào mới có cái để tự hào. Không làm trái đạo đức nghề nghiệp, yêu thương đồng nghiệp, không nhổ nước bọt vào quá khứ, không phản bội lý tưởng của chính mình, kể cả khi phải im lặng, cũng là cái đáng tự hào lắm rồi.

Làm nghề, không chỉ là nghề báo, cũng có lúc nọ lúc kia, nghĩ đến lúc kia mà giữ chính kiến.

PS:

Sáng nay ngồi xem VTV1, có bác Cao Sỹ Kiêm đẹp giai (lão) nói nhiều cái hay, mỗi tội là bi quan. Bác phân tích các mặt trái của chính sách. Thi thoảng chêm các con số. Ví dụ bác ấy bảo là cả nước có 350 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình hình (lãi suất và cầu) thế này, cuối năm có khi 200 ngàn doanh nghiệp đứt bóng hoặc hấp hối. Bác ấy cũng nói quý IV và nhất là cuối năm mới gọi là khốc liệt khi nền kinh tế cần tích lũy đầu vào để cung ứng cho năm tới.

Nền kinh tế cũng có lúc nọ lúc kia. Nghĩ đến lúc kia mà phấn đấu thôi. Hehehe.

Đăng tải tại sống, đời | 3 bình luận

Một Phút Dành Cho Quảng Cáo!

Bạn nào đang tìm kiếm các giải pháp kiểu kiểu như dưới đây thì liên lạc với Xu nhé:

+ Business Grade Telephony for ISPs (VoIP)

+ Voice Tranmission over Satellite

+ MSC Interconnection (Inter Trunking)

+ GSM Abis/Ater optimization.

Giản đồ mô tả: để download thì click vào đây.

Liên hệ với Xu:

Skype: nxuhanoi

YM: nxuhanoi

 

 

 

 

PhotobucketPhotobucket

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Phút Dành Cho Quảng Cáo!

Tập Làm Văn

Đề bài:

Hãy phát biểu cảm tưởng của em về đại hội Olimpics Beijing 2008

Bài làm:

Mở bài:

Khác với các bạn Việt Nam khác, em hoàn toàn mù sử và văn học Trung Hoa. Em chỉ biết có mỗi Lâm Xung, Tôn Ngộ Không và Lỗ Tấn. Em rất thích Lỗ Tấn vì ông ấy là một bác sỹ dũng cảm, dám cầm dao phẫu thuật dân tộc mình để chữa bệnh. Chỉ tiếc là ông ấy đang mổ dở thì chết trước cả bệnh nhân nên kết quả chưa đi đến đâu.

Thân bài:

1. Lễ khai mạc: Đúng là một bữa tiệc thịt người (Lỗ Tấn)

2. Trung quốc đứng đầu bảng tổng sắp huy chương: Đại AQ (Lỗ Tấn).

3. Toàn bộ đại hội, bao gồm cả việc rước đuốc: Không phải là một đại chiến dịch PR nhằm quảng bá Trung Quốc với thế giới. Thực ra đó là một đại chiến dịch tuyên truyền tinh xảo nhắm vào chính 1 tỷ người dân Trung Quốc.

4. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu: Không ngạc nhiên gì khi chiến dịch tuyên truyền này được giao vào tay Trương, một đạo diễn tài năng của Trung Quốc, người đã làm nên kiệt tác điện ảnh Anh Hùng. Anh Hùng là một bộ phim tuyên truyền cho cái gọi là: thôn tính đẫm máu và cai trị hung tàn là con đường duy nhất mang thái bình đến cho thiên hạ. (em nói thật, thiên hạ cần đéo gì cái thái bình kiểu ấy).

Kết luận:

Bản chất đằng sau 4 điểm trên là gì. Đó là sự thiếu vắng lương tâm của cả một dân tộc, một quốc gia.

Không phải đất nước và nhân dân Trung Quốc không có lương tâm. Họ có đấy. Nhưng họ đã bức tử lương tâm của chính mình trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Họ đã giết lương tâm của mình đổi lấy sự giàu có của một gã nhà giàu hợm hĩnh và tham lam. Với sự đánh đổi này, có vẻ như họ đánh đổi cả tương lai dân tộc, để lấy sự giàu có nhanh chóng mà thiếu vắng rất nhiều công bằng và phúc lợi xã hội.

Trong lúc này những nước hàng xóm be bé như chúng ta phải làm gì với gã hàng xóm trọc phú, hợm của, tham lam và vô lương tâm như vậy.

Thưa các thầy là em không biết, nhưng nói chung là phải hết sức cảnh giác với tinh thần đại hán và mưu đồ bá quyền của bọn nhà giàu tham lam ạ.

Cùng lúc chúng ta phải nuôi dưỡng lương tâm của dân tộc Việt. Nhiều người bi quan cho rằng lương tâm của chúng ta bị cấm khẩu và móm vì chả bao giờ thấy lương tâm của chúng ta lên tiếng hoặc cắn rứt. Em thì nghĩ ngược lại. Em cho rằng lương tâm của chúng ta còn nhỏ lắm, chưa biết nói và chưa mọc răng. Chúng ta phải chịu khó cho lương tâm của dân tộc uống sữa giàu can xi để nhanh lớn và xương cứng răng tốt. (Gõ vào răng cọc cọc, colgate)

Sau này răng tốt thì cắn rứt hơi đau, nhưng nhân cách của nước ta lúc đó mới cứng được ạ.

Lời phê:

20 tháng 11 nhớ mua quà là sữa giàu can xi nhé. Không thì móm đấy!

Đăng tải tại nhảm, đời | Chức năng bình luận bị tắt ở Tập Làm Văn