Entry for September 30, 2008

Thực ra tôi có rất rất rất nhiều bạn thân là người Công Giáo. Nhưng họ đều là dân công giáo 54. Đặc điểm chung của những người bạn này đều là: cởi mở, hòa nhã, lễ phép, biết chơi một nhạc cụ gì đó, hầu hết là biết một hoặc hơn một ngoại ngữ (kể cả các bạn nghèo và lớn tuổi). Không có ai có tư tưởng chống cộng cực đoan (bằng chứng là chơi thân với 5xu, hehehe, bắc kỳ đỏ rực).

Nhưng thật thà mà nói thì tôi không cảm tình với công giáo bắc kỳ lắm. Tại “sơ yếu lí lịch” của công giáo bắc kỳ có nhiều yếu tố phục vụ quân đội viễn chinh Pháp và chính quyền thuộc địa. Ngay cả công giáo sau 1954 ở miền nam thì ông Ngô Đình Diệm cũng pro quá đáng, gây quá nhiều ức chế cho cả bên Phật giáo lẫn Lương giáo.

Tất nhiên nhìn vào sơ yếu lí lịch mà đánh giá thì không fair. Nhưng có ai trên đời này không đánh giá người khác bằng cách xem quá khứ của người ta không?

Quay lại sự vụ 42 Nhà Chung. Ít người chịu khó nhìn nhận vụ tranh chấp này theo chiều dọc của lịch sử. Nếu chịu khó nhìn theo chiều lịch sử thì khu đất Nhà Chung có một số điểm nhấn quan trọng. Nhưng trước hết nhắc lại lịch sử một chút:

+ Pháp chiếm nước ta. Trước hết chúng chiếm Nam Kỳ. Sau hòa ước 1862 ký với triều đình Huế thì ngòai các tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa của Pháp thì Pháp đạt được một mốc quan trọng trong hiệp ước này, đó là việc tự do truyền đạo thiên chúa và buôn bán trên toàn cõi Việt Nam (Nam Kỳ thuộc Pháp, Huế và Bắc Kỳ là của nhà Nguyễn).

+ Sau đó Pháp đánh Bắc Kỳ. Đánh hai lần. Lần một là Francis Garnier đánh thành Hà Nội, bắt Nguyễn Tri Phương (ông này sau tuyệt thực chết). Lần hai là Henri Riviere đánh Hà Nội, lần này Hoàng Diệu treo cổ tự sát.

+ Cả hai lần thì quân Pháp đều dùng thông ngôn là một cố đạo (linh mục) người Pháp có tên là Puginier (cha Phước??). Nhờ việc làm thông ngôn mà Puginier được Garnier cho mở nhà thờ nhỏ bằng gỗ chung với doanh trại tạm của quân đội Pháp trong khuôn viên chùa Báo Thiên. Sau đó nhà thờ nhỏ này được xây thành nhà thờ lớn Hà Nội như bây giờ.

+ Sau khi chiếm được Bắc Kỳ thì nước ta chia thành ba vùng rõ rệt: Thuộc Địa (Nam Kỳ), Bảo Hộ (Bắc Kỳ) và Đế Chế An Nam (Empire of Annam), chính là triều đình Huế.

Các điểm nhấn ở Nhà Trung như sau.

+ Trước khi Pháp đánh Hà Nội thì Hà Nội là cái làng khổng lồ. Sau khi Pháp chiếm và quy họach xây dựng mới hình thành đường phố này nọ. Trong đó có Phường Báo Thiên biến thành khu Nhà Chung.

+ Việc chiếm khu đất này được một việt gian là Tuần phủ Nguyễn Hữu Độ hợp pháp hóa bằng cách xui dân công giáo ở phường Báo Thiên viết đơn xin dọn dẹp chùa Báo Thiên đổ nát.

+ Khâm Sứ (delegate) Tòa Thánh phụ trách xứ Annam lúc đầu là một vị khâm sứ phụ trách Đông Dương. Văn phòng (Tòa) Khâm Sứ đặt ở thủ đô, tức là đặt ở Đế Chế An Nam, tức là Huế, cụ thể là ở Phủ Cam.

+ Đến năm 1945 nước Việt Nam độc lập, Hà Nội trở thành thủ đô. Do đó Tòa Khâm mới chuyển ra Hà Nội vào năm 1951.

+ Sau năm 1954 thì Vatican cương quyết không chấp nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khâm sứ chạy vào Nam. Để một ông khác lên làm Quyền Khâm Sứ.

+ Tất nhiên là chính phủ VNDCCH không thể chịu nổi cái kiểu trẻ con ấy, liền trục xuất nốt cái ông quyền khâm sứ kia và tịch biên tòa khâm sứ (1959)

Như vậy là trước khi Pháp đánh Hà Nội thì hoàn tòan không có khu Nhà Trung. Và sự hiện diện của Khâm Sứ Tòa Thánh ở Hà nội chỉ vỏn vẹn có mấy năm (1951-1959). Trong đó có thời gian sau 1954 thì vị khâm sứ này, như là một liên lạc viên của Tòa thánh Vatican ở Hà nội, luôn chối bỏ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngay cả giáo hoàng đương nhiệm, đợt vừa rồi đi Úc, lúc gặp Việt Kiều cũng quấn cờ vàng ba sọc chứ không quấn cờ đỏ sao vàng, tức là vẫn có ý chối bỏ nhà nước Việt nam hiện nay. Thật là hài hước hết sức. Ai dám nói là tôn giáo phi chính trị nữa nào.

Như vậy, xét về mặt sơ yếu lí lịch thì Ki Tô Giáo ở Việt Nam quá non trẻ so với Phật Giáo. Chưa kể là còn có quá nhiều phốt.

Có lẽ ngày xưa khi Phật Giáo du nhập vào Giao Chỉ cũng phải trải qua rất nhiều sự thanh lọc khắc nghiệt thì mới bản địa hóa được. Sự thanh lọc khắc nghiệt ấy đã biến Phật Giáo thành một tôn giáo bản địa không chỉ có vai trò tâm linh mà còn có vai trò truyền bá trí thức, lòng yêu nước, sức mạnh chống ngoại xâm (xem thêm cái Thiền Tông Việt Nam). Vua Lê ngày xưa sùng đạo Phật nhưng mà cần ra trận là cầm gươm đâm chém ra trò. Hết binh đao thì lại quay lại hiền lành tu tập. Đúng là “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Ki Tô Giáo thì ngoài sự thanh lọc thời nhà Nguyễn thì sau đó quá được ưu ái. Từ quân đội viễn chinh Pháp đến chính quyền Ngô Đình Diệm ưu ái hết lòng, muốn gì được nấy. Đời đúng là có lúc nọ lúc kia, cứ thấy lúc kia mà đòi cho lúc nọ thì khó mà có được cái sự công bằng.

Quá khứ luôn vọng về tương lại. Tương lai luôn có hình bóng quá khứ. Ở Việt Nam, suốt chiều dài lịch sử của mình người ta luôn thấy sự thất bại của tất cả các phong trào dựa hơi ngoại bang. Chưa một lực lượng chính trị xã hội nào mượn thế và lực của ngoại bang mà thành công ở Việt Nam. Thất bại của mọi thế lực vọng ngoại phần lớn là do sự thanh lọc khá quyết liệt và tàn nhẫn của dân tộc Việt. Phật Giáo, với vai trò cả tôn giáo lẫn triết thuyết, đã vượt qua sự thanh lọc ấy chính là nhờ vào sự cởi mở và không đố kị của mình.

Ngoài việc sớm du nhập vào Việt Nam và đồng lòng với dân tộc suốt chiều dài lịch sử, một trong những lý do mà Phật Giáo được người Việt chấp nhận đó là vì tôn giáo này rất phi tập trung và không sùng bái bất cứ một cá nhân nào. Không những thế, ngoài Thích Ca và rất nhiều vị Bồ Tát, Phật Giáo khi vào VN còn ‘nhận thêm’ kha khá nhiều vị thần bản địa (Mây Mưa Sấm Chớp) và các vị thần có tính dị đoan địa phương (saman giáo) như đức ông này bà chúa kia. Cũng có thể là ở đây có side-effect là người Việt sẽ dị ứng với các tôn giáo hoặc chủ nghĩa nào đó có tính sùng bái một cá nhân phi thường, đặc biệt là dị ứng với bất cứ tôn giáo hoặc chủ nghĩa không những không chịu bản địa hóa mà lại còn thanh lọc đồng bào mình. Lịch sử phật giáo VN cận đại cho thấy chính lực lượng Phật Giáo là lực lượng chống ngoại xâm (cả văn hóa và quân sự) và chống độc tài bền bỉ và mạnh mẽ nhất. Chỉ có khác xưa một chút là súng gươm vứt bỏ thì không hiền như xưa nữa mà chuyển qua ăn chơi tham nhũng bợ đít chính quyền và bọn trọc phú hehehehe. Thế nên sư bây giờ mới có khái niệmlà sư tham nhũng với sư chạy chức. Sư trụ trì các chùa bây giờ chả khác gì đi làm giám đốc cơ quan nhà nước, hehehe. Đất nước cứ thế, bão lụt thiên tai nó mới nhiều.

Đăng tải tại đạo, đời | 2 bình luận

Lúc Nọ Lúc Kia

 

Hôm trước có một người bạn phàn nàn rằng thì kinh tế khó khăn, hàng bán chậm, tồn kho nhiều, bị khách nợ nhiều. Đã thế lại mới có quả “nhập khẩu tự động” của Bộ Công Thương, nhập hàng phải đi xin phép (anh bạn này bán máy tính). Chả bù cho năm ngoái, bán laptop chạy như tôm tươi.

Tôi mới bảo: thì đời có lúc này lúc kia, nghĩ đến lúc kia mà sống.

Nhiều người phàn nàn bảo báo chí giờ giống nhau, đọc toàn tin lá cải, hoa hậu với lại sầu riêng, tăng thanh hà với lại khóc lóc.

Chả lẽ lại phải bảo: báo chí có lúc nọ lúc kia, nghĩ đến lúc phải đọc báo toàn cứt đái phe phái đánh đập hạ bệ bôi xấu lẫn nhau với cả cướp giết hiếp để mà thấy bây giờ đọc báo lá cải thế này cũng có cái lợi là đỡ bẩn mắt.

Nhiều người bảo, anh Xu toàn chê khựa, cái dân tộc của anh có hơn gì đâu, có cái gì để tự hào đâu.

Chả lẽ lại phải bảo: mẹ, chỉ có bọn trọc phú bẩn nó mới tự hào khi mà nó có cái gì đó hơn người khác.

Một người bình thường có nhiều cái để tự hào. Họ có thể tự hào vì bố mẹ họ là những người lương thiện. Họ có thể tự hào vì bản thân họ là người chăm chỉ lao động, hiếu học và biết trân trọng đồng tiền. Họ có thể tự hào rằng họ nghèo mà con cái họ lễ phép và được học hành tử tế.

Cần đéo gì phải hơn người thì mới vỗ ngực tự hào. Tự hào kiểu ấy người ta gọi là vênh váo.

Dân tộc cũng thế thôi. Nếu một dân tộc biết tự hào vì sự lương thiện, sự cần cù lao động, đồng bào biết yêu thương đùm bọc nhau, thì mới là dân tộc có sức mạnh. Chứ không phải có công nghệ hạt nhân như Bắc Hàn, có thằng chạy nhanh như Bolt, hay có thằng diễn trò hay như Trương Nghệ Mưu thì mới có cái để tự hào.

Mà nghề báo cũng thế thôi. Đâu cứ phải viết đấu tranh chống tiêu cực, đăng bài điều tra chống tham nhũng mới là làm báo giỏi. Một tờ báo đâu cứ phải giương cờ đấu tranh lằng ngoằng thế lọ thế chai mới là tờ báo hàng đầu của nghề. Tổng biên tập đâu cứ đăng bài chống tiêu cực mới gọi là dũng cảm.

Không được nói thẳng thì châm biếm đả kích cũng là dũng cảm. Thậm chí còn là thông minh, giỏi. Như tờ Tuổi Trẻ Cười ngày xưa vậy. Tất nhiên nói vòng vo chả có hay ho gì, nhưng còn hơn là ngậm hột thị.

Có những thời điểm không nên nói gì có khi cũng là dũng cảm. Và sáng suốt.

Bởi làm báo cũng có lúc nọ lúc kia. Bắn súng thì cũng có lúc nghỉ để lên đạn. Nữa là cầm bút mỏi tay.

Chỉ có mấy thằng hay nổ thì lúc đéo nào cũng nói được.

Không nhất thiết phải có bài báo xé rào mới có cái để tự hào. Không làm trái đạo đức nghề nghiệp, yêu thương đồng nghiệp, không nhổ nước bọt vào quá khứ, không phản bội lý tưởng của chính mình, kể cả khi phải im lặng, cũng là cái đáng tự hào lắm rồi.

Làm nghề, không chỉ là nghề báo, cũng có lúc nọ lúc kia, nghĩ đến lúc kia mà giữ chính kiến.

PS:

Sáng nay ngồi xem VTV1, có bác Cao Sỹ Kiêm đẹp giai (lão) nói nhiều cái hay, mỗi tội là bi quan. Bác phân tích các mặt trái của chính sách. Thi thoảng chêm các con số. Ví dụ bác ấy bảo là cả nước có 350 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ, tình hình (lãi suất và cầu) thế này, cuối năm có khi 200 ngàn doanh nghiệp đứt bóng hoặc hấp hối. Bác ấy cũng nói quý IV và nhất là cuối năm mới gọi là khốc liệt khi nền kinh tế cần tích lũy đầu vào để cung ứng cho năm tới.

Nền kinh tế cũng có lúc nọ lúc kia. Nghĩ đến lúc kia mà phấn đấu thôi. Hehehe.

Đăng tải tại sống, đời | 3 bình luận

Một Phút Dành Cho Quảng Cáo!

Bạn nào đang tìm kiếm các giải pháp kiểu kiểu như dưới đây thì liên lạc với Xu nhé:

+ Business Grade Telephony for ISPs (VoIP)

+ Voice Tranmission over Satellite

+ MSC Interconnection (Inter Trunking)

+ GSM Abis/Ater optimization.

Giản đồ mô tả: để download thì click vào đây.

Liên hệ với Xu:

Skype: nxuhanoi

YM: nxuhanoi

 

 

 

 

Photobucket – Photobucket

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Một Phút Dành Cho Quảng Cáo!

Tập Làm Văn

Đề bài:

Hãy phát biểu cảm tưởng của em về đại hội Olimpics Beijing 2008

Bài làm:

Mở bài:

Khác với các bạn Việt Nam khác, em hoàn toàn mù sử và văn học Trung Hoa. Em chỉ biết có mỗi Lâm Xung, Tôn Ngộ Không và Lỗ Tấn. Em rất thích Lỗ Tấn vì ông ấy là một bác sỹ dũng cảm, dám cầm dao phẫu thuật dân tộc mình để chữa bệnh. Chỉ tiếc là ông ấy đang mổ dở thì chết trước cả bệnh nhân nên kết quả chưa đi đến đâu.

Thân bài:

1. Lễ khai mạc: Đúng là một bữa tiệc thịt người (Lỗ Tấn)

2. Trung quốc đứng đầu bảng tổng sắp huy chương: Đại AQ (Lỗ Tấn).

3. Toàn bộ đại hội, bao gồm cả việc rước đuốc: Không phải là một đại chiến dịch PR nhằm quảng bá Trung Quốc với thế giới. Thực ra đó là một đại chiến dịch tuyên truyền tinh xảo nhắm vào chính 1 tỷ người dân Trung Quốc.

4. Đạo diễn Trương Nghệ Mưu: Không ngạc nhiên gì khi chiến dịch tuyên truyền này được giao vào tay Trương, một đạo diễn tài năng của Trung Quốc, người đã làm nên kiệt tác điện ảnh Anh Hùng. Anh Hùng là một bộ phim tuyên truyền cho cái gọi là: thôn tính đẫm máu và cai trị hung tàn là con đường duy nhất mang thái bình đến cho thiên hạ. (em nói thật, thiên hạ cần đéo gì cái thái bình kiểu ấy).

Kết luận:

Bản chất đằng sau 4 điểm trên là gì. Đó là sự thiếu vắng lương tâm của cả một dân tộc, một quốc gia.

Không phải đất nước và nhân dân Trung Quốc không có lương tâm. Họ có đấy. Nhưng họ đã bức tử lương tâm của chính mình trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Họ đã giết lương tâm của mình đổi lấy sự giàu có của một gã nhà giàu hợm hĩnh và tham lam. Với sự đánh đổi này, có vẻ như họ đánh đổi cả tương lai dân tộc, để lấy sự giàu có nhanh chóng mà thiếu vắng rất nhiều công bằng và phúc lợi xã hội.

Trong lúc này những nước hàng xóm be bé như chúng ta phải làm gì với gã hàng xóm trọc phú, hợm của, tham lam và vô lương tâm như vậy.

Thưa các thầy là em không biết, nhưng nói chung là phải hết sức cảnh giác với tinh thần đại hán và mưu đồ bá quyền của bọn nhà giàu tham lam ạ.

Cùng lúc chúng ta phải nuôi dưỡng lương tâm của dân tộc Việt. Nhiều người bi quan cho rằng lương tâm của chúng ta bị cấm khẩu và móm vì chả bao giờ thấy lương tâm của chúng ta lên tiếng hoặc cắn rứt. Em thì nghĩ ngược lại. Em cho rằng lương tâm của chúng ta còn nhỏ lắm, chưa biết nói và chưa mọc răng. Chúng ta phải chịu khó cho lương tâm của dân tộc uống sữa giàu can xi để nhanh lớn và xương cứng răng tốt. (Gõ vào răng cọc cọc, colgate)

Sau này răng tốt thì cắn rứt hơi đau, nhưng nhân cách của nước ta lúc đó mới cứng được ạ.

Lời phê:

20 tháng 11 nhớ mua quà là sữa giàu can xi nhé. Không thì móm đấy!

Đăng tải tại nhảm, đời | Chức năng bình luận bị tắt ở Tập Làm Văn

Vu Lan

Năm 1994 tôi thường xuyên phải ở một khách sạn tên là Hòa Bình ở Biên Hòa. Đấy là một khách sạn của nhà nước, lớn nhất ở Biên Hòa lúc bấy giờ. Còn tôi mới 21 tuổi.

Buổi tối không biết làm gì, lại cũng không có nhiều tiền, tôi thường xuống reception chơi với đám lễ tân ở đó.

Gọi là đám lễ tân nhưng thực ra các anh chị ấy lớn tuổi hơn tôi nhiều. Và họ cũng rất cởi mở với một thằng nhóc bắc kỳ rặt bé nhỏ đang mắc kẹt ở cái khách sạn ấy.

Trong lễ tân có một anh người đậm, không đẹp trai, rất đàn ông, chưa vợ. Anh nói chuyện không nhiều. Khá kín kẽ.

Với khách nước ngoài, phần giao tiếp chủ yêu là anh.

Thi thoảng tôi cũng thấy có những người ở ngoài vào khách sạn gặp anh để nhờ ghi phong bì thư. Họ gửi thư cho người thân bên Mỹ mà không biết tiếng Anh. Trong số đó có cả những cô gái lai rất ngon mắt.

Mãi sau này khi thân nhau anh mới nói mình nguyên là nhân viên điều phối không lưu giỏi nhất ở Tân Sơn Nhất. Tiếng Anh của anh vì thế cũng giỏi như người Mỹ. Hay theo cách anh tả những ban nhạc SG chơi quán bar cho Mỹ đen: nhắm mắt lại mà nghe thì nghĩ bọn nó không phải người Việt.

Đám lễ tân ấy ngủ đêm ngay ở căn phòng reception. Phòng nhỏ nhưng sạch sẽ, sáng sủa và có máy lạnh. Bên phía ngòai quầy lễ tân là ghế xa lông cho khách.

Buổi tối tôi hay xuống ngồi chơi với họ. Họ cũng nghèo, đến khuya hết việc thì uống mấy ve.

Rồi anh mang đàn guitar ra hát. Hát rất hay mới chết. Một rocker thứ thiệt. Anh chỉ phàn nàn là không thể vừa chơi guitar vừa thổi harmonica như Mỹ.

Anh hát Heart of Gold. Anh hát The House of rising sun.

Cho đến bây giờ, tình yêu của tôi với ca khúc “The house of rising sun” là nhờ anh truyền qua trong những buổi tối như thế.

Rồi đến một hôm tôi phải về. Anh bảo tôi là sẽ hát tặng một bài mà tôi thích. Tôi bảo anh thích bài nào cũng được, tùy anh. Anh hơi say say, nói rằng anh đang nhớ mẹ. Tôi cũng thế.

Và anh hát Mother của John Lennon.

Lời bài hát có đọan:

Mother, you had me but I never had you,
I wanted you but you didn’t want me,

và

Mama don’t go,
Daddy come home.

Cho đến nhiều năm sau này tôi vẫn nghe thấy giọng gào thét da diết của anh và tiếng cửa kính căn phòng lễ tân ấy rung lên theo tiếng hát “Mother do’nt go”

Người mẹ Việt Nam ở bên kia đại dương hẳn còn nhớ con trai mình nhiều hơn thế.

Đăng tải tại nhạc, sống | Thẻ | 3 bình luận

Trước Khi Làm Tình Thì Làm Gì?

Trong lúc HN rất nóng và 5xu đang đợi có ai đó trả 45K để viết nốt cái business model cho xoáy mặt phẳng, post cái entry này mọi người đọc cho nhẹ đầu.

I. Sến.

Có bạn đặt bài viết về chủ đề Sến. Quyền được Sến, kiểu kiểu thế.

Nhận lời rồi bỏ. Làm sao viết được về cái gọi là Sến. Còn khó hơn viết về Yêu ấy chứ. Yêu nó giống con hươu, sừng dài, chân dài, eo thon. Sến thì như con hến, vỏ thì xù xì, bên trong mềm mềm ướt ướt.

Sến nó ở trong tất cả mọi người. Người thì biểu diễn nó ra như một sự lãng mạn. Người thì tẩm nó lên người như một dung dịch ướt nhóet. Có người dùng sến như đồ trang sức đa màu. Có người thậm chí phải sến thì mới sống được.

Người thì giấu nó kín trong người, lúc tình cảm đau đớn thì … hét cái sến lên.
Người thì để thường trực trong lòng, hơi tí thì vắt ra khăn mùi xoa sướt mướt.

Người thì sến ngay cả trong công việc.
Người thì chỉ sến trong tình yêu.

Có người sến bi lụy
Có người sến diêm dúa
Có người sến ly kì
Có người sến thô bạo.

Có người mang cái sến của người khác ra mà diễu cợt
Có người thấy cái sến của người khác để đau thương cho chính mình.

Có cái sến biến kẻ mạnh thành bi lụy yếu đuối.
Có cái sến lại biến sự mềm yếu thành bi tráng.

Nhưng dù thế nào đi nữa, sến vẫn là cái mà mỗi chúng ta, lúc đẻ ra đã có trong người. Khác với tiềm thức ảnh hưởng đến nhân cách, sến thường chỉ ảnh hưởng đến hành vi, nhất là hành vi tình cảm.

Người ta có thể có nhiều quan điểm khác nhau về sến và phong cách sến.
Nhưng sâu thẳm trong lòng ai cũng có sự bi lụy của riêng mình về tình cảm và cuộc sống.
Đấy chính là mẫu số chung để sến có quyền tồn tại.

Giống với tiềm thức âm thầm tạo nên tính cách, sến cũng lặng lẽ tạo ảnh hưởng lên hành vi sống. Bởi vậy sến cũng có phần sâu thẳm và bí hiểm không kém nội tâm con người.

Đấy cũng là một lý do để con người có quyền được sến.

II. Nói lái

Còn bây giờ chuyển qua câu hỏi trước làm tình là làm gì.

Là câu đố mẹo ấy mà. Kiểu đố này ai cũng biết rồi, nhưng cứ kể lại cho vui.

1. Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò. Vậy thứ tư là gì?
Trả lời: thứ tư là một ngày trong tuần.

2. Con gì càng to càng bé?
Trả lời: Con cua, một càng to, một càng bé.

3. Cái gì càng cắt càng cao?
Trả lời: Cắt tóc

4. Lẩu gì mà chị em phụ nữ thích nhất (đàn ông cũng thích nhưng mệt)?
Trả lời: Lẩu Cưng

5. Các câu hỏi về đồ của vua

Áo của vua là gì? —> Long bào
Giường của vua là gì? —> Long sàng
Mắt của vua là gì? —> Long nhãn
Óc của vua là gì? —-> Long não
Vua đau bụng là gì? —-> Long phẩn
Vua thèm gái là gì? —-> Long nền
Vua rủ gái vào chén là gì? —-> Long phền
Vua chén nhiều bị hỏng súng là gì? —-> Long củ
Vua chén mãi mà gái ko có bầu là gì? —–> Long tỉnh

6. Vậy cuối cùng, trước khi làm tình là làm gì? Trước khi làm tình là làm tội.

III. Sống Chậm

Nếu người ta hài hước và biết cách tự diễu mình thì người ta có thể sến mà không phải là con hến. Hoặc người ta sến mà vẫn biết cách tự trào lộng cái sến của mình thì con hến lại thành cái vỏ xấu xí để người ta chui vào để sống chậm. Sống như con hến di chuyển bằng mép lưỡi mềm bò trên tảng đá, thật là chậm, từng ly một, từng tý một mặc kệ nước chảy qua đầu. Giống như hai kẻ tình nhân nhấm nháp từng ly từng tí cơ thể nhau. Như những người phải quay cuồng trong cuộc sống xô bồ bất chợt được ngừng lại để thưởng thức từng ly từng tý của một thoáng an bình trong cuộc đời dài dằng dặc.

Sống vẫn phải nhanh vì thời gian không chờ ai cả.
Mây trắng vẫn qua sông nhiều khi rất chậm.
Làm sao mà có được cả hai nếu như không có trong lòng cả cái sến mây trắng qua sông và sự hài hước của con hến biết cách quên nhịp hối hả của thời gian.

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 15 bình luận

Haiku Hôm Nay

Trưa nay rảnh, bốc phét mấy bài thơ kiểu haiku 5-7-5. Chưa kịp đặt tên tại bốc phét nhiều bài quá.

*
Ăn trưa đi bộ vỉa hè
Gạch khấp khểnh, xe, hàng tạp hóa
Bóng râm không mượt mà

*
Quán gội đầu rẻ tiền
Kê chậu ghế gội mặt phố nắng
Tóc xõa mát vỉa hè

*
Trời sắp bão mây đen
Nắng oi bức gió ẩm phố vắng
Máy lạnh khô cao ốc

*
Con cá vàng quẫy nhẹ
Mặt coóng nhỏ khuất góc nhà
Tiếng buổi trưa thức giấc

*
Quốc lộ giữa cánh đồng
Trăng sáng qua cửa xe nhà gái
Cô dâu ở nhà chồng

*
Đèn đỏ rừng người đợi
Nắng pha khói xăng bụi tiếng ồn
Tắt máy thấy bình yên

Đăng tải tại Uncategorized | 6 bình luận

Dionysus Trần Dần

1.

Tôi vẫn cho rằng tác phẩm sẽ phân loại nghệ sỹ chứ không phải ngược lại. Tỷ như tác phẩm siêu thực sẽ biến nghệ sỹ thành siêu thực chứ không thể nào ngược lại.

Nhưng đôi khi đời lại khác.

Khác với ngày nay và ở những nơi khác, khi mà dòng nghệ thuật mainstream do số đông người thưởng thức quyết định, thì ở ta, ngày xưa, mainstream là do số ít quyết định. Và cá biệt, có thi sĩ tự biến mình thành nghệ sỹ lớn thuộc dòng mainstream và qua đó tác phẩm của ông ta đương nhiên là thuộc mainstream và được số đông quần chúng ưa thích.

Lúc đó, không nên dịch mainstream thành chủ lưu, mà chỉ nên dịch là dòng chính thống.

Những ai cưỡng lại dòng mainstream cuồn cuộn chảy đó, sẽ bị nhấn xuống đáy.

Một người nghệ sỹ bị ép buộc sống underground, không có nghĩa là tác phẩm của ông ta sẽ là underground. Mà ngược lại, sự thực là, ông ấy đã dấn thân rất xa, đến những chân trời có người bay mà ông là người Việt nam duy nhất.

Khi bị ép phải sống một cuộc sống bên lề xã hội, bị cắt đứt khỏi bầu sữa chính quyền, bị quần chúng đám đông ghẻ lạnh, người ta bỗng dưng trở thành một người cô – độc – và – hoàn – toàn – tự – do. Bởi đám đông kia chỉ là những con số, còn riêng ông là một người bay.

Một nghệ sỹ vĩ đại là một người nghệ sỹ tạo ra những giá trị vượt hẳn lên trên mọi loại hình xã hội, học thuyết, tôn giáo, chủng tộc… và càng phải vượt lên trên ý chí, chân lý, quyền lực … của một nhóm người hay thậm chí của cả một đế chế.

Để được như thế, người nghệ sỹ, ngoài tài năng thiên bẩm, cần phải hoàn toàn tự do, dứt bỏ mình ra khỏi xã hội tầm thường và cắt đứt hoàn toàn mọi sự tài trợ và đặc ân của một nhóm người hay của cả một đế chế. Sự dứt bỏ, dù là chủ động hay bị động, đều ẩn sau đó một dòng chảy của hùng ca.

Tất cả những kẻ còn lại, đều có thể được gọi, giống như Nietzsche đã từng gọi, là bọn trọc phú văn nghệ.

TÔI THÍCH VIẾT CÁI CHƯA BIẾT

MẶC CÁC ÔNG VIẾT CÁI ĐÃ BIẾT

(Trần Dần)

2.

Tôi vẫn cho rằng ngôn ngữ bị tác động ngược của chính tả. Việc sử dụng ký tự latin và cách bỏ dấu chắc chắn đã mang đến cho tiếng Việt các tác động tượng thanh và tượng hình hoàn toàn khác với các chữ viết (nếu có) trước đó.

Việc sử dụng chính tả, và đôi khi cả ngữ pháp, trong văn học viết theo những cách khác nhau chắc chắn sẽ làm vang lên trong đầu người đọc những âm và hình khác nhau của những từ thuần Việt hết sức bình thường.

Việc Trần Dần kiên trì sáng tạo tiếng Việt trong thơ của mình bằng chính tả và ngữ pháp dị thường đã đẩy tác phẩm của ông, có lẽ có gốc sâu xa là trường phái tượng trưng, đến tận cùng của (không biết nên gọi là gì) của nghệ thuật. Những bài thơ trong Chiều Vô Lễ (1960-1964) hiện đại hơn mọi bài thơ hiện đại nhất hiện nay. Còn Jờ Joạcx (1963) thì có lẽ vượt xa hơn thơ avant-garde của các nhà thơ đương đại hiện nay tầm một năm ánh sáng.

Tôi đứng thẫn thờ

Đại lộ ngu si

(Trần Dần)

3.

Tôi tin rằng việc Trần Dần lúc ở tuổi đôi mươi đã say mê thơ tượng trưng đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến thơ và văn xuôi của ông sau nay. Tất tần tật các hình ảnh từ vi mô đến vĩ mô, từ cát sỏi đến mặt trời, từ cặp đùi đến những vì tinh tú trong thơ Trần Dần đều được ông thở ra dưới những hình ảnh cực kỳ ấn tượng và tuyệt đẹp. Đó là nhờ ảnh hưởng của thơ tượng trưng.

Nhưng chính việc sử dụng hình ảnh quá progressive như vậy trong Nhất Định Thắng và Đi! Đây Việt Bắc đã làm người ta áp đặt những tư tưởng phi nghệ thuật lên tác phẩm của ông.

Ngày xưa (khi bị đập) cũng vậy. Mà ngày nay (bọn ca ngợi thơ ông) nhiều khi cũng vậy.

Trọc phú văn nghệ, hóa ra đời nào cũng có.

Tôi không cho Nhất Định Thắng (1956) và Đi! Đây Việt Bắc (1957)là 2 tác phẩm lớn của Trần Dần. Đấy chỉ là những tác phẩm hay và tân kỳ (ở thời điểm đấy) của Trần Dần chứ không phải là những tác phẩm mà ông đã đi đến tận cùng về mặt nghệ thuật.

Tuy trong Nhất Định Thắng có âm thầm và cuồn cuộn chảy một giọng thơ nam tính và hùng tráng, tuy hình thức thơ xuống dòng hiện đại, tuy nhiều hình ảnh trong bài thơ ấy rất đẹp, nhưng tôi vẫn cho rằng so với các tác giả cùng thời kỳ, đặc biệt là so với Nguyễn Đình Thi, thì Nhất Định Thắng không có gì nổi trội.

Đừng

để

chân trời

gọi mãi!

Đừng để

khói sương

mời mọc

đến hai lần!

(Trần Dần)

4.

Tôi cho rằng Trần Dần đã sáng tạo ra một dòng thơ thuộc loại conceptual art (nghệ thuật khái niệm) hoàn thiện nhất và độc đáo nhất ở Việt Nam tính đến nay. Giá trị của nó, như tôi đã nói ở trên, sẽ vượt lên tất cả. Và nhờ đó nó sẽ xếp tác giả của nó vào hạng thi sĩ lớn nhất của Việt Nam. Trong bảng xếp hạng ấy, Bùi Giáng và Phạm Công Thiện sẽ chỉ là những em bé.

Có thể tạm gọi concept art của Trần Dần là ‘nghệ thuật khái niệm duy thức” trong đó có hai thời kỳ Tâm (citta) và Thức (vijñāna) nằm ở hai thời kỳ sáng tác khác nhau của Trần Dần.

4.1

Tôi cho rằng ở Cổng Tỉnh (1960) thì Trần Dần đã có những biến chuyển rất hiện đại về thi pháp, tuy chưa triệt để như sau này, nhưng đã cực kỳ ấn tượng. Đoạn thơ ngắn trong phần “Gái trai thành quách bàn cờ” là một ví dụ điển hình.

Đến Mùa Sạch (1964) thì Trần Dần đã thực sự hoàn thiện hóa thi pháp của mình. Tạm gọi là dòng “nghệ thuật khái niệm duy thức” giai đoạn Tâm (citta).

Những nghệ sỹ concept art thường sử dụng âm thanh và hình ảnh trong không gian biểu diễn để gợi lên cho khán giả một khái niệm có tính chất bắt đầu (của nghệ thuật). Còn Trần Dần dùng ngay con CHỮ và CÁCH VIẾT CON CHỮ để làm điều ấy.

Các con chữ, câu thơ, bố cục, sự lặp lại có chủ ý của Trần Dần trong mùa sạch đã làm gợi lên trong Tâm (phần hồn thúc đẩy bản ngã vật chất của người đọc) những hình ảnh và cảm xúc rất mơ hồ, sơ khởi nhưng vô cùng ấn tượng và đẹp đẽ. Thiên nhiên đẹp dẽ trong Mùa Sạch có cái gì đó còn hơn cả nghệ thuật. Đơn sơ hơn và mạnh mẽ hơn, như là một concept.

4.2

Giống như trong kịch cổ điển, phần bè phụ luôn nói với khán giả về một cái gì đó khác với những gì đang diễn ra trên sân khấu chính. Bè phụ cho khán giả biết một âm mưu đang rình rập xung quanh các nhân vật chính. Hay chỉ là một thông tin về thời tiết bên ngoài.

Trần Dần đã đưa bè phụ của kịch cổ điển vào thơ và thơ-văn-xuôi của ông. Để biểu hiện bè phụ và rhythm của nó, ông đã dùng chính tả và ngữ pháp. Các chữ in nghiêng, viết hoa, từ viết ’sai’ chính tả, các dấu chấm phảy bất thường đã mở vào đầu người đọc tới hai hoặc nhiều hơn các lối đi.

Tập Jờ Joạcx (1963) là đỉnh cao tuyệt đối của thi pháp này (tính đến nay). Có thể gọi đây là dòng “nghệ thuật khái niệm duy thức” giai đoạn Thức (vijñāna).

Những CON CHỮ chạy trên mặt giấy, dưới thủ pháp sắp đặt theo chủ ý có tính thị giác của Trần

Dần, biến thành dòng NGÔN TỪ chạy theo các cửa khác nhau vào nhận thức của người đọc. Nó làm gợi lên trong người đọc những gì sơ khởi nhất của nhận thức (Thức như là mặt bên kia của Tâm, và tách biệt với bản ngã vật chất của con người). Tuy rất mơ hồ và khó hiểu, nhưng quả thực cái tôi và các phản tôi trong Jờ Joạcx cũng vẫn gây ấn tượng rất mạnh lên nhận thức của người đọc. Mơ hồ nhưng mạnh mẽ, như là một concept vậy.

5.

Tôi cho rằng Trần Dần sử dụng thơ như một chất liệu để xây lên đó một ngôn ngữ Việt có tính nghệ thuật cực kỳ hiện đại chứa ẩn nhiều tầng tâm thức. Cho đến nay, ngôn ngữ chạy trên thơ và thơ-văn-xuôi của Trần Dần hoàn toàn khác với tất cả những nhà thơ khác, kể cả những nhà thơ là bạn của ông.

Ngôn ngữ nghệ thuật của Trần Dần giống như một IP Core Network.

Chạy trên nó là những bài thơ có tác dụng như access platform, để người đọc qua đó truy cập được vào các tầng ngôn ngữ.

MƯA RƠI KHÔNG CẦN PHIÊN DỊCH

(Trần Dần)

*

**

Đọc “Đêm Núm Sen” của Trần Dần

Tôi thích Đêm Núm Sen – Trần Dần vì những gì cuốn này không có.

Không Hà Nội mà ai cũng biết. Không nội dung mà ai cũng viết.

Không cốt truyện lằng nhằng. Không cao trào kịch tính. Không tuyến phụ tuyến chính. Không bối cảnh mè mầu.

Không nhân vật thâm sâu. Không tính cách tai quái. Không tuyên ngôn biến thái. Không trí thức điên rồ.

Không nghệ sĩ bờ hồ. Không lưu manh phố chợ. Không chính trị oan nợ. Không tư tưởng đau đầu.

Không trèo sấu trèo me. Không hoa sữa vỉa hè. Không mùa thu tỏa nắng. Không rét ngọt đông về.

Không dương cầm, sâm cầm. Không món ngon phố cổ. Không tào lao nhí nhố. Không xe điện đi về.

***

Đọc Đêm Núm Sen.
Thấy bao nhiêu nhào trộn.

Nhào trộn dài tích tắc
Nhiều hàng ki lô mét

Trần Dần trộn phố vào làng.

Làng của Trần Dần có đại lộ, quảng trường. Làng của Trần Dần có thợ rừng, thợ thủ công. Có cả công nhân, thợ máy.

Làng của Trần Dần có cổng làng. Có luôn cả tòa thị sảnh.

Làng của Trần Dần có phố cao sang, có phố nhà hàng, có phố lang thang.
Có nhà hộ sinh. Có giao thông hào. Có biệt thự đá.

***

Cái đầu gối nối đùi với cẳng. Cái khoác lưng nối gái với trai. Có những con đường nối làng với phố. Có quán bia hơi nối người với nhau.

Trần Dần nhào làng Liễu Giai, Đại Yên, Ngọc Hà vào nhau. Rồi nối vào Phó Đức Chính, Hàng Bún, Hàng Than. Nối sang Phan Đình Phùng nối vào Hàng Giấy.

Hàng Giấy nối sang Hàng Chiếu, Hàng Buồm.
Cây cầu cong nối tới Tràng Tiền.

***

Cái biệt thự Đá Đỏ nhà cô Sứa. Hơn mười năm trước. Tôi vẫn thấy đâu đây trên Phó Đức Chính. Chắc nay vẫn còn?

Cái biệt thự làm bản lề nối thành phố với nhà quê.
Nối gái Hà Thành với giai Nam Định.
Mối nhục cảm con người giao khoái cảm thủ đô.
Qua  Phan Đình Phùng – Đại Lộ Mùa Thu – giao vào cổng thành Cửa Bắc.

***

Kiến chúa nằm đẻ con. Nhà hộ sinh bà Bệu. Bệnh viện Xanh Pôn.

Kiến công nhân làm nhà máy điện Yên Phụ.

Bồ Đào là Hàng Buồm. La Tinh là Hàng Giấy.
Hy Lạp khá rõ phố Tràng Tiền.

Quảng Trường Ánh Trăng, là nhà thờ Các Tút.
Nay Ba Đình nơi mộ chôn ông bác nhiều người gọi cha già.

Ông bác ấy, trong Đêm Núm Sen, có phải bác Bay?

Trộn Pháp Nhật Tưởng, thành quân kiến Đầu Beo.

Nhào mặt trận Liên Việt chống Pháp thành hiệp ước liên làng.

Trộn Hà Nội 1946 với thời tạm chiếm.
Trộn luôn chiến dịch Việt Bắc loi nhoi thích tổng phản công.

Nhào Nguyễn Chí Thanh thành ra tướng Rỗ.

Trộn Nguyễn Đình Thi với chính mình thành gã Cồ Bồ Xồ

Cả bãi sông Hồng đá gà nhào thành Cổ Loa luyện võ.

Nhào cổng thành Bắc vết đạn hõm thành nơi đôi lứa hẹn núp trăng.

Nhào cả không khí tình dục giai quê vào nơi thành phố. Trộn không khí thời bình vào sự hối hả của chiến tranh.

Có cưỡng dâm. Có xin biết mùi đời khi rơi vào cõi chết. Có lắp đít những cậu ái nam. Có trốn nhiệm chỉ huy vào nhà xí tòng teng với vợ.

Trộn tình ca vào lẫn phố ca. Trộn hoa vào lưỡi kiếm. Trộn thuộc địa vào lòng tạm chiếm. Trộn mồ hôi vào với mồ hôi.

Trộn thành Nam vào thành Thăng Long. Trộn nhà máy dệt lạch cạch vào nhà đèn xịt khói.

Trộn những người đi qua chiến tranh, và những người buông dở. Trộn người khôn vào với người thiêng.

***

Trên tất cả

Trộn một người tình quốc dân đảng vào nữ tự vệ thủ đô.

Lột chiến bào đỏ là ra tà áo trắng
Đùi dài trong suốt
vú núm sen mải mướt

Chỉ còn trong tâm tưởng

Người lính trận trở về
Chèo thuyền đơn
Mặt hồ sen sau tiếp quản thủ đô.

Đăng tải tại sách, sống | Thẻ | 5 bình luận

Tây Tạng

 Thực ra Tây Tạng không nổi tiếng như người ta nghĩ. Di sản văn hóa của Tây Tạng cực kỳ lớn, nhưng sự nổi tiếng của nó lại đến từ chính trị và nỗ lực marketing place của một con người.

Hơn một trăm năm trước đây, chỉ có người Ấn và thực dân Anh quan tâm đến Tây Tạng.

Mặc dù trong quá khứ, lúc thì Tây Tạng thuộc Mông Cổ, lúc thuộc Ấn, lúc thuộc Anh, lúc thì thuộc Trung Hoa (trước cách mạng), nhưng về bản chất chính trị thì Tây Tạng luôn ở chế độ tự trị, bất kể về mặt lãnh thổ họ thuộc quốc gia hay đế chế nào.

Về mặt văn hóa, người Tây Tạng và chính quyền Tây Tạng trong quá khứ cũng như hiện nay, luôn coi Tây Tạng như một concept mà trong đó lãnh thổ Tây Tạng phủ rộng đến tất cả những nơi nào mà văn hóa Tây Tạng có ảnh hưởng mạnh mẽ. Những mảnh đất đó có thể thuộc Nepal, Butan hay Ấn, hoặc các tỉnh lân cận trong lãnh thổ Trung Quốc. Người Tây Tạng có tập quán, chữ viết, văn hóa dân gian, triết học, kiến trúc, mỹ thuật hoàn toàn khác với người Hán.

Là một mảnh đất cổ xưa, thấm đẫm văn hóa Phật giáo, và là quê hương của Mật thừa, cho nên chính quyền Tây Tạng chỉ mạnh về tôn giáo và tinh thần, không mạnh về chính trị và quân sự.

Tuy nhiên lịch sử thế giới, với mô hình toàn cầu hóa kiểu cũ bắt đầu từ thời Alexander, nổi lên bằng Napoleon, và đạt đỉnh cao thời kỳ thực dân đã mang đến Tây Tạng sự giao lưu văn hóa có tính đột biến. Giới tu sỹ và văn nghệ sỹ Tây Tạng bắt đầu giỏi ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh thực dân, qua đó quảng bá triết học, văn học, tư tưởng sâu đậm của Tây Tạng qua phương tây.

Lợi dụng sự thay đổi mạnh mẽ về toàn cầu hóa kiểu cũ, cụ thể là phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, khi người Anh và Ấn có nhiều mối bận tâm khác, còn người Hán còn đang loay hoay làm cách mạng, Tây Tạng lần đầu tiên có một chính quyền mạnh mẽ hơn. Trong một thời gian ngắn ngủi đầu thế kỷ trước, hai lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng là Dalai Lama 13 và 14 đã xây dựng một chính quyền mạnh hơn chính quyền tự trị vốn có (có quốc hội, quân đội, tiền tệ, bưu chính riêng của Tây Tạng). Lưu ý là Tây Tạng không đặt nặng vấn đề lãnh thổ, học chỉ đặt nặng vấn đề tự trị. Vả lại, đối với họ Tây Tạng vô cùng rộng lớn về mặt địa lý, và còn rộng lớn hơn về mặt văn hóa cho nên lãnh thổ thuộc về ai thì cũng thế thôi.

Năm 1950, quân đội cách mạng TQ tiến vào Tây Tạng. Mọi thứ vẫn bình thường. Năm 1959, Dalai Lama 14, quân đội và nhân dân Tây Tạng khởi nghĩa nhưng bị dẹp tan trong máu. Lama 14 chạy ra nước ngoài và thành lập chính phủ lưu vong. Cho đến giờ người ta vẫn chỉ gọi ông là Lãnh Tụ Tinh Thần Lưu Vong của Tây Tạng. Trong khi đó cách mạng văn hóa và sự thôn tính về chủng tộc của người Hán đã gây ra thảm họa văn hóa cho Tây Tạng. Theo các số liệu khác nhau thì số lượng tu viện, trong đó đa phần là tu viện cổ, bị phá hủy trong thời kỳ cách mạng văn hóa là từ 6 ngàn đến 20 ngàn. Số lượng thanh niên Tây Tạng bị sát hại hoặc bị đi đày là trên 200 ngàn người. Trong đó có nhiều phật sống.

Trong suốt những năm lưu vong, đức Dalai Lama đã đi vòng quanh thế giới để quáng bá Phật Giáo, Văn Hóa Tây Tạng và đòi tự do cho Tây Tạng. Ông đi rất nhiều, giảng đạo rất nhiều, diễn thuyết rất nhiều. Nỗ lực không mệt mỏi của ông đã làm nổi tiếng Tây Tạng và Văn Hóa Tây Tạng. Nếu không có Dalai Lama, có lẽ thế giới biết rất ít đến Tây Tạng. Cũng nhờ nỗ lực này mà đức Dalai Lama đã được trao giải Nobel Hòa Bình. Tất nhiên giải Nobel Hòa Bình là giải khá vớ vẩn trong hệ thống giải này, cũng đồng thời mang nhiều màu sắc chính trị. Tuy nhiên, dù sao, giải vẫn là một sự trân trọng đặc biệt dành cho đức Dalai Latma.

Năm nay là một năm đặc biệt đối với TQ, khi họ đứng ra tổ chức Olimpic 2008 ở Bắc Kinh.

Thường thì sự kiện tổ chức Olimpic là sự kiện của một thành phố, nhưng TQ đã đưa thành sự kiện quốc gia.

Sự kiện này tất nhiên là lôi kéo quan tâm của cả thế giới, và ai cũng muốn sử dụng (lợi dụng) nó cho mục đích của mình. Đặc biệt là ngày nay, khi toàn cầu hóa và thông tin tràn lan khắp thế giới thì lại càng có nhiều cách để tận dụng một sự kiện lớn.

Đầu tiên là đạo diễn thượng thặng của Hollywood là ông Spielberg đột ngột rút lui, không làm đạo diễn lễ khai mạc Olimpic Bắc Kinh. Ông muốn phảnđối sự tài trợ khổng lồ của chính phủ TQ vào vào các nước độc tài Châu Phi, cụ thể là để phản đối nạn diệt chủng ở Dafur.

Sau đó là ca sỹ Bjork lên tiếng về Tây Tạng.

Ngay trước cuộc rước đuốc (đi qua Tây Tạng) thì người dân Tây Tạng đã ”nổi lọan”.

Đài Loan đã dọa dẫm tẩy chay Olimpic.

Thái tử Charles của vương quốc Anh đã tuyên bố không đi dự khai mạc. Thủ tướng Anh đã tuyên bố sẽ đón tiếp Dalai Latma khi ông tới Anh tháng 5 tới đây. Thủ Tướng Anh Brown cũng đã gọi điện cho thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo về vấn đề Tây Tạng.

Thủ tướng Ba Lan cũng chính thức tuyên bố ủng hộ Dailai Lama và không đi dự khai mạc Olimpic.

Trong lúc đó TQ đã cấm người nước ngoài vào Tây Tạng. Các kênh truyền thông quốc tế chỉ đưa tin mơ hồ về Tây Tạng, ngoài ra chỉ có hình ảnh quân đội và cảnh sát TQ tiến vào Tây Tạng. Số lượng người chết từ các nguồn tin khác nhau là khác nhau. Đài TH của TQ nói người chết là người Hoa. Còn bên Tây Tạng lưu vong thì nói người chết là người Tây Tạng.

Đài truyền hình TQ hôm qua lần đầu tiên chiếu các cảnh náo lọan ở Tây Tạng cách đây một tuần. Các cảnh người dân Tây Tạng đập phá, đốt, đánh các doanh nghiệp và ngân hàng ở thủ đô Lhasha Tây Tạng (chắc là của người Hán). Đài TQ cũng quay cảnh phỏng vấn dân Tây Tạng, đa phần đều nói giống nhau là tình hình bất ổn do người nổi lọan gây khó khăn cho đi học, kinh doanh, sinh họat.

Chính phủ TQ cũng cáo buộc Dalai Lama và bè lũ của ông (clique) là đứng sau cuộc bạo loạn này bằng cách lên kế họach, tổ chức và xúi giục. Họ cũng nói là có hơn 100 người cầm đầu đã ra “đầu thú”. Họ yêu cầu Dalai Lama chấm dứt việc này.

Hôm qua Dalai Lama đã nói ông không có tý quyền lực nào (poweless) trong cuộc nổi dậy ở Tây Tạng. Ông sẵn sàng từ chức nếu việc này làm yên ổn tình hình. Ông cũng sẵn sàng đối thoại với chính phủ Tquốc. Ông cũng nhấn mạnh là ông không đòi độc lập về mặt lãnh thổ của Tây Tạng, ông chỉ muốn Tây Tạng được tự trị (qua đó ngăn chặn được làn sóng Hán Hóa ngày càng mạnh ở Tây Tạng).

Còn vài ngày hôm nay, bất ổn đã lan ra các tỉnh lân cận, không còn chỉ ở Tây Tạng nữa. Chính quyền TQ đã xác nhận việc này sáng ngày hôm nay. Tân Hoa Xã cũng xác nhận là cảnh sát đã bắn vào đoàn biểu tình và làm bị thương 4 người.

Những người đòi tự do cho Tây Tạng đang đòi ủy ban olimpic quốc tế không được rước đuốc qua Tây Tạng. Nhưng việc này chắc khó được chấp nhận.

Còn về mặt ngọai giao, thực ra cho đến nay, chưa có nước nào công nhận có quan hệ ngoại giao với Tây Tạng, kể cả là trong quá khứ.

Đăng tải tại Uncategorized | 2 bình luận

Hội Chợ Sách HCMC

Bận quá, ko mở mắt ra nổi.

Tính làm cái entry về hội chợ sách ở SG mà ko thể ngồi tỉa ra được nữa. Mà thực ra cũng không biết nhận xét gì nữa. Xưa nay hội chợ sách thì ở HCMC luôn làm to và hoành tráng hơn HN. Duy nhất có hội chợ sách 98 (hình như thế) ở HN là to, mà cũng là nhờ năm đó Fahasa HCM dẫn quân ra ồ ạt để diễu võ dương oai.

Không biết ở các nước khác có nước nào làm bookfair hoặc bookexhibition ngoài trời không. Những cái mà tôi đã nhìn tận mắt thì toàn là làm trong nhà. Riêng VN thì làm mấy lần ngoài giời rồi. Lần này thì làm ở công viên Lê Văn Tám. May mà trời không mưa và cũng không quá nóng. Chứ không thì eo ôi. Giấy mà ngâm nước thì biết rồi đấy.

Fahasa chăm sóc các nhà xuất bản rất kỹ. Tập đoàn Cengage (tên mới của Thomson) có gian to nhất. Họ cũng tranh thủ launch cuốn sách Bài học thành công của Sinpagore (tiếng Việt, in ở Singapore). Routlege (thuộc Taylor Francis) và Springer có gian hàng giản dị và khiêm tốn, mặc dù sách của tụi này thuộc loại ác liệt. Alpha Science (không phải AlphaBook của Cảnh Bình&Friends) cũng có gian hàng nhỏ, sản phẩm khá ấn tượng, cũng thuộc loại highclass. Mỗi tội không hiểu sao lại đứng cạnh MacMillan nhà qué và bên kia là đối thủ cạnh tranh McGraw-Hill. Pearson vốn hoành tráng cả chục năm nay với các nhà xuất bản mua lại từ Simon& Schuster như Prentice Hall, Sams, Que, hoặc mua đứt cả nhãn như Longman, Addison Wesley cũng có gian hàng to lắm.

Các nhà xuất bản đều có người qua dự, trừ đại gia John Wiley thì chỉ có gian hàng. Riêng Elsevier chỉ cử nhóm HealthScience qua. Sách trưng bày phần nhiều là sách cũ (chắc là của Fahasa). Nói chung thị trường VN đến giờ vẫn là mảnh đất cằn cỗi đối với sách ngoại. Qua các câu chuyện goosip với các bạn xuất bản nước ngoài, tự nhiên thấy mình cũng không bị lạc hậu lắm với thị trường, thậm chí còn cảm nhận tốt hơn là khác, hehe.

Sách quốc văn thì vẫn sôi động và hơi chợ chợ như thế. Tuy nhiên có một vài nhà xuất bản nhà nước có nhiều sách hay phết, nhất là các bác hay có sách chuyên khảo và sách ảnh về Saigon (tự nhiên quên bác này tên là gì, vì định mua mà thấy đắt tiền quá). Các nhà xuất bản về tôn giáo nhiều sách phết, mua được hai chục cuốn về Phật giáo. Riêng tạp chí Văn Hóa Phật Giáo có nhà sách bán trọn bộ 2007 và 2006. Nghiến răng mua, về nhà mở ra thấy họ đưa nhầm, cả hai đều là 2007. Nói chung rơi vào chỗ nào có sách là y như rằng tối về nghĩ lại thấy sót ruột.

Năm nay Phương Nam làm to và sôi động nhất. Buổi nào đến cũng đang thấy giao lưu với dịch giả hoặc tác giả. Thiên hạ ngồi nghe chăm chú lắm. Kể cả các buổi làm vào buổi chiều nóng nực. Điểm thú vị nhất và các nữ độc giả đi mua (xem) sách khá đông, nhiều người khá là kiều diễm.

Có một nhà sách tên là Sách Hà nội gì đó. Vào đấy toàn thấy sách văn học và cận văn học của các bạn ngoài này như Đông Tây, Bách Việt, AlphaBook, Tri Thức. Chỉ có một cái ngạc nhiên là mấy ngày đi quanh quanh khu đó mà lại không thấy Nhã Nam đâu. Chả lẽ lại bỏ sót khu nào có Nhã Nam.

Các nhà xuất bản ngoài bắc có lẽ kéo quân vào đông. Đi ăn trưa ở Press Cafe cũng thấy một đám đông. Đi ra sân bay cũng gặp. Cafe cũng gặp. Mỗi tội không biết ai là ai.

Buổi chiều dân tình vào Lê Văn Tám tập thể dục như bình thường, nhìn cũng vui mắt, các dòng người mặc quần đùi áo cộc chạy vòng vòng quanh cái công viên ấy. Thủa còn ở SG và chưa lên ký, sáng nào tôi cũng làm mấy vòng ở đấy. Nay nhìn thấy thiên hạ chạy, đã thấy toát cả mồ hôi.

PS: Hôm nay thì báo TTVH là báo đầu tiên đưa tin về riot ở Tây Tạng. Nội dung bài báo (của tác giả Gia Bào) giống y giọng Tân Hoa Xã, đổ hết tội cho bè lũ (clique) Dalai (Latma).

Nếu ai nghiên cứu lịch sử 1 chút thì sẽ thấy những gì TQ làm ở Tây Tạng từ năm 1950 đến nay không khác gì Mã Viện làm với Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng. Ngài Dalai Latma gọi là ‘diệt chủng văn hóa’ hẳn cũng có lý của ngài.

Đăng tải tại đời | 1 bình luận