Vu Lan

Năm 1994 tôi thường xuyên phải ở một khách sạn tên là Hòa Bình ở Biên Hòa. Đấy là một khách sạn của nhà nước, lớn nhất ở Biên Hòa lúc bấy giờ. Còn tôi mới 21 tuổi.

Buổi tối không biết làm gì, lại cũng không có nhiều tiền, tôi thường xuống reception chơi với đám lễ tân ở đó.

Gọi là đám lễ tân nhưng thực ra các anh chị ấy lớn tuổi hơn tôi nhiều. Và họ cũng rất cởi mở với một thằng nhóc bắc kỳ rặt bé nhỏ đang mắc kẹt ở cái khách sạn ấy.

Trong lễ tân có một anh người đậm, không đẹp trai, rất đàn ông, chưa vợ. Anh nói chuyện không nhiều. Khá kín kẽ.

Với khách nước ngoài, phần giao tiếp chủ yêu là anh.

Thi thoảng tôi cũng thấy có những người ở ngoài vào khách sạn gặp anh để nhờ ghi phong bì thư. Họ gửi thư cho người thân bên Mỹ mà không biết tiếng Anh. Trong số đó có cả những cô gái lai rất ngon mắt.

Mãi sau này khi thân nhau anh mới nói mình nguyên là nhân viên điều phối không lưu giỏi nhất ở Tân Sơn Nhất. Tiếng Anh của anh vì thế cũng giỏi như người Mỹ. Hay theo cách anh tả những ban nhạc SG chơi quán bar cho Mỹ đen: nhắm mắt lại mà nghe thì nghĩ bọn nó không phải người Việt.

Đám lễ tân ấy ngủ đêm ngay ở căn phòng reception. Phòng nhỏ nhưng sạch sẽ, sáng sủa và có máy lạnh. Bên phía ngòai quầy lễ tân là ghế xa lông cho khách.

Buổi tối tôi hay xuống ngồi chơi với họ. Họ cũng nghèo, đến khuya hết việc thì uống mấy ve.

Rồi anh mang đàn guitar ra hát. Hát rất hay mới chết. Một rocker thứ thiệt. Anh chỉ phàn nàn là không thể vừa chơi guitar vừa thổi harmonica như Mỹ.

Anh hát Heart of Gold. Anh hát The House of rising sun.

Cho đến bây giờ, tình yêu của tôi với ca khúc “The house of rising sun” là nhờ anh truyền qua trong những buổi tối như thế.

Rồi đến một hôm tôi phải về. Anh bảo tôi là sẽ hát tặng một bài mà tôi thích. Tôi bảo anh thích bài nào cũng được, tùy anh. Anh hơi say say, nói rằng anh đang nhớ mẹ. Tôi cũng thế.

Và anh hát Mother của John Lennon.

Lời bài hát có đọan:

Mother, you had me but I never had you,
I wanted you but you didn’t want me,

Mama don’t go,
Daddy come home.

Cho đến nhiều năm sau này tôi vẫn nghe thấy giọng gào thét da diết của anh và tiếng cửa kính căn phòng lễ tân ấy rung lên theo tiếng hát “Mother do’nt go”

Người mẹ Việt Nam ở bên kia đại dương hẳn còn nhớ con trai mình nhiều hơn thế.

Đăng tải tại nhạc, sống | Thẻ | 3 bình luận

Trước Khi Làm Tình Thì Làm Gì?

Trong lúc HN rất nóng và 5xu đang đợi có ai đó trả 45K để viết nốt cái business model cho xoáy mặt phẳng, post cái entry này mọi người đọc cho nhẹ đầu.

I. Sến.

Có bạn đặt bài viết về chủ đề Sến. Quyền được Sến, kiểu kiểu thế.

Nhận lời rồi bỏ. Làm sao viết được về cái gọi là Sến. Còn khó hơn viết về Yêu ấy chứ. Yêu nó giống con hươu, sừng dài, chân dài, eo thon. Sến thì như con hến, vỏ thì xù xì, bên trong mềm mềm ướt ướt.

Sến nó ở trong tất cả mọi người. Người thì biểu diễn nó ra như một sự lãng mạn. Người thì tẩm nó lên người như một dung dịch ướt nhóet. Có người dùng sến như đồ trang sức đa màu. Có người thậm chí phải sến thì mới sống được.

Người thì giấu nó kín trong người, lúc tình cảm đau đớn thì … hét cái sến lên.
Người thì để thường trực trong lòng, hơi tí thì vắt ra khăn mùi xoa sướt mướt.

Người thì sến ngay cả trong công việc.
Người thì chỉ sến trong tình yêu.

Có người sến bi lụy
Có người sến diêm dúa
Có người sến ly kì
Có người sến thô bạo.

Có người mang cái sến của người khác ra mà diễu cợt
Có người thấy cái sến của người khác để đau thương cho chính mình.

Có cái sến biến kẻ mạnh thành bi lụy yếu đuối.
Có cái sến lại biến sự mềm yếu thành bi tráng.

Nhưng dù thế nào đi nữa, sến vẫn là cái mà mỗi chúng ta, lúc đẻ ra đã có trong người. Khác với tiềm thức ảnh hưởng đến nhân cách, sến thường chỉ ảnh hưởng đến hành vi, nhất là hành vi tình cảm.

Người ta có thể có nhiều quan điểm khác nhau về sến và phong cách sến.
Nhưng sâu thẳm trong lòng ai cũng có sự bi lụy của riêng mình về tình cảm và cuộc sống.
Đấy chính là mẫu số chung để sến có quyền tồn tại.

Giống với tiềm thức âm thầm tạo nên tính cách, sến cũng lặng lẽ tạo ảnh hưởng lên hành vi sống. Bởi vậy sến cũng có phần sâu thẳm và bí hiểm không kém nội tâm con người.

Đấy cũng là một lý do để con người có quyền được sến.

II. Nói lái

Còn bây giờ chuyển qua câu hỏi trước làm tình là làm gì.

Là câu đố mẹo ấy mà. Kiểu đố này ai cũng biết rồi, nhưng cứ kể lại cho vui.

1. Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò. Vậy thứ tư là gì?
Trả lời: thứ tư là một ngày trong tuần.

2. Con gì càng to càng bé?
Trả lời: Con cua, một càng to, một càng bé.

3. Cái gì càng cắt càng cao?
Trả lời: Cắt tóc

4. Lẩu gì mà chị em phụ nữ thích nhất (đàn ông cũng thích nhưng mệt)?
Trả lời: Lẩu Cưng

5. Các câu hỏi về đồ của vua

Áo của vua là gì? —> Long bào
Giường của vua là gì? —> Long sàng
Mắt của vua là gì? —> Long nhãn
Óc của vua là gì? —-> Long não
Vua đau bụng là gì? —-> Long phẩn
Vua thèm gái là gì? —-> Long nền
Vua rủ gái vào chén là gì? —-> Long phền
Vua chén nhiều bị hỏng súng là gì? —-> Long củ
Vua chén mãi mà gái ko có bầu là gì? —–> Long tỉnh

6. Vậy cuối cùng, trước khi làm tình là làm gì? Trước khi làm tình là làm tội.

III. Sống Chậm

Nếu người ta hài hước và biết cách tự diễu mình thì người ta có thể sến mà không phải là con hến. Hoặc người ta sến mà vẫn biết cách tự trào lộng cái sến của mình thì con hến lại thành cái vỏ xấu xí để người ta chui vào để sống chậm. Sống như con hến di chuyển bằng mép lưỡi mềm bò trên tảng đá, thật là chậm, từng ly một, từng tý một mặc kệ nước chảy qua đầu. Giống như hai kẻ tình nhân nhấm nháp từng ly từng tí cơ thể nhau. Như những người phải quay cuồng trong cuộc sống xô bồ bất chợt được ngừng lại để thưởng thức từng ly từng tý của một thoáng an bình trong cuộc đời dài dằng dặc.

Sống vẫn phải nhanh vì thời gian không chờ ai cả.
Mây trắng vẫn qua sông nhiều khi rất chậm.
Làm sao mà có được cả hai nếu như không có trong lòng cả cái sến mây trắng qua sông và sự hài hước của con hến biết cách quên nhịp hối hả của thời gian.

Đăng tải tại nhảm | Thẻ | 15 bình luận

Haiku Hôm Nay

Trưa nay rảnh, bốc phét mấy bài thơ kiểu haiku 5-7-5. Chưa kịp đặt tên tại bốc phét nhiều bài quá.

*
Ăn trưa đi bộ vỉa hè
Gạch khấp khểnh, xe, hàng tạp hóa
Bóng râm không mượt mà

*
Quán gội đầu rẻ tiền
Kê chậu ghế gội mặt phố nắng
Tóc xõa mát vỉa hè

*
Trời sắp bão mây đen
Nắng oi bức gió ẩm phố vắng
Máy lạnh khô cao ốc

*
Con cá vàng quẫy nhẹ
Mặt coóng nhỏ khuất góc nhà
Tiếng buổi trưa thức giấc

*
Quốc lộ giữa cánh đồng
Trăng sáng qua cửa xe nhà gái
Cô dâu ở nhà chồng

*
Đèn đỏ rừng người đợi
Nắng pha khói xăng bụi tiếng ồn
Tắt máy thấy bình yên

Đăng tải tại Uncategorized | 6 bình luận

Dionysus Trần Dần

1.

Tôi vẫn cho rằng tác phẩm sẽ phân loại nghệ sỹ chứ không phải ngược lại. Tỷ như tác phẩm siêu thực sẽ biến nghệ sỹ thành siêu thực chứ không thể nào ngược lại.

Nhưng đôi khi đời lại khác.

Khác với ngày nay và ở những nơi khác, khi mà dòng nghệ thuật mainstream do số đông người thưởng thức quyết định, thì ở ta, ngày xưa, mainstream là do số ít quyết định. Và cá biệt, có thi sĩ tự biến mình thành nghệ sỹ lớn thuộc dòng mainstream và qua đó tác phẩm của ông ta đương nhiên là thuộc mainstream và được số đông quần chúng ưa thích.

Lúc đó, không nên dịch mainstream thành chủ lưu, mà chỉ nên dịch là dòng chính thống.

Những ai cưỡng lại dòng mainstream cuồn cuộn chảy đó, sẽ bị nhấn xuống đáy.

Một người nghệ sỹ bị ép buộc sống underground, không có nghĩa là tác phẩm của ông ta sẽ là underground. Mà ngược lại, sự thực là, ông ấy đã dấn thân rất xa, đến những chân trời có người bay mà ông là người Việt nam duy nhất.

Khi bị ép phải sống một cuộc sống bên lề xã hội, bị cắt đứt khỏi bầu sữa chính quyền, bị quần chúng đám đông ghẻ lạnh, người ta bỗng dưng trở thành một người cô – độc – và – hoàn – toàn – tự – do. Bởi đám đông kia chỉ là những con số, còn riêng ông là một người bay.

Một nghệ sỹ vĩ đại là một người nghệ sỹ tạo ra những giá trị vượt hẳn lên trên mọi loại hình xã hội, học thuyết, tôn giáo, chủng tộc… và càng phải vượt lên trên ý chí, chân lý, quyền lực … của một nhóm người hay thậm chí của cả một đế chế.

Để được như thế, người nghệ sỹ, ngoài tài năng thiên bẩm, cần phải hoàn toàn tự do, dứt bỏ mình ra khỏi xã hội tầm thường và cắt đứt hoàn toàn mọi sự tài trợ và đặc ân của một nhóm người hay của cả một đế chế. Sự dứt bỏ, dù là chủ động hay bị động, đều ẩn sau đó một dòng chảy của hùng ca.

Tất cả những kẻ còn lại, đều có thể được gọi, giống như Nietzsche đã từng gọi, là bọn trọc phú văn nghệ.

TÔI THÍCH VIẾT CÁI CHƯA BIẾT

MẶC CÁC ÔNG VIẾT CÁI ĐÃ BIẾT

(Trần Dần)

2.

Tôi vẫn cho rằng ngôn ngữ bị tác động ngược của chính tả. Việc sử dụng ký tự latin và cách bỏ dấu chắc chắn đã mang đến cho tiếng Việt các tác động tượng thanh và tượng hình hoàn toàn khác với các chữ viết (nếu có) trước đó.

Việc sử dụng chính tả, và đôi khi cả ngữ pháp, trong văn học viết theo những cách khác nhau chắc chắn sẽ làm vang lên trong đầu người đọc những âm và hình khác nhau của những từ thuần Việt hết sức bình thường.

Việc Trần Dần kiên trì sáng tạo tiếng Việt trong thơ của mình bằng chính tả và ngữ pháp dị thường đã đẩy tác phẩm của ông, có lẽ có gốc sâu xa là trường phái tượng trưng, đến tận cùng của (không biết nên gọi là gì) của nghệ thuật. Những bài thơ trong Chiều Vô Lễ (1960-1964) hiện đại hơn mọi bài thơ hiện đại nhất hiện nay. Còn Jờ Joạcx (1963) thì có lẽ vượt xa hơn thơ avant-garde của các nhà thơ đương đại hiện nay tầm một năm ánh sáng.

Tôi đứng thẫn thờ

Đại lộ ngu si

(Trần Dần)

3.

Tôi tin rằng việc Trần Dần lúc ở tuổi đôi mươi đã say mê thơ tượng trưng đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến thơ và văn xuôi của ông sau nay. Tất tần tật các hình ảnh từ vi mô đến vĩ mô, từ cát sỏi đến mặt trời, từ cặp đùi đến những vì tinh tú trong thơ Trần Dần đều được ông thở ra dưới những hình ảnh cực kỳ ấn tượng và tuyệt đẹp. Đó là nhờ ảnh hưởng của thơ tượng trưng.

Nhưng chính việc sử dụng hình ảnh quá progressive như vậy trong Nhất Định Thắng và Đi! Đây Việt Bắc đã làm người ta áp đặt những tư tưởng phi nghệ thuật lên tác phẩm của ông.

Ngày xưa (khi bị đập) cũng vậy. Mà ngày nay (bọn ca ngợi thơ ông) nhiều khi cũng vậy.

Trọc phú văn nghệ, hóa ra đời nào cũng có.

Tôi không cho Nhất Định Thắng (1956) và Đi! Đây Việt Bắc (1957)là 2 tác phẩm lớn của Trần Dần. Đấy chỉ là những tác phẩm hay và tân kỳ (ở thời điểm đấy) của Trần Dần chứ không phải là những tác phẩm mà ông đã đi đến tận cùng về mặt nghệ thuật.

Tuy trong Nhất Định Thắng có âm thầm và cuồn cuộn chảy một giọng thơ nam tính và hùng tráng, tuy hình thức thơ xuống dòng hiện đại, tuy nhiều hình ảnh trong bài thơ ấy rất đẹp, nhưng tôi vẫn cho rằng so với các tác giả cùng thời kỳ, đặc biệt là so với Nguyễn Đình Thi, thì Nhất Định Thắng không có gì nổi trội.

Đừng

để

chân trời

gọi mãi!

Đừng để

khói sương

mời mọc

đến hai lần!

(Trần Dần)

4.

Tôi cho rằng Trần Dần đã sáng tạo ra một dòng thơ thuộc loại conceptual art (nghệ thuật khái niệm) hoàn thiện nhất và độc đáo nhất ở Việt Nam tính đến nay. Giá trị của nó, như tôi đã nói ở trên, sẽ vượt lên tất cả. Và nhờ đó nó sẽ xếp tác giả của nó vào hạng thi sĩ lớn nhất của Việt Nam. Trong bảng xếp hạng ấy, Bùi Giáng và Phạm Công Thiện sẽ chỉ là những em bé.

Có thể tạm gọi concept art của Trần Dần là ‘nghệ thuật khái niệm duy thức” trong đó có hai thời kỳ Tâm (citta) và Thức (vijñāna) nằm ở hai thời kỳ sáng tác khác nhau của Trần Dần.

4.1

Tôi cho rằng ở Cổng Tỉnh (1960) thì Trần Dần đã có những biến chuyển rất hiện đại về thi pháp, tuy chưa triệt để như sau này, nhưng đã cực kỳ ấn tượng. Đoạn thơ ngắn trong phần “Gái trai thành quách bàn cờ” là một ví dụ điển hình.

Đến Mùa Sạch (1964) thì Trần Dần đã thực sự hoàn thiện hóa thi pháp của mình. Tạm gọi là dòng “nghệ thuật khái niệm duy thức” giai đoạn Tâm (citta).

Những nghệ sỹ concept art thường sử dụng âm thanh và hình ảnh trong không gian biểu diễn để gợi lên cho khán giả một khái niệm có tính chất bắt đầu (của nghệ thuật). Còn Trần Dần dùng ngay con CHỮ và CÁCH VIẾT CON CHỮ để làm điều ấy.

Các con chữ, câu thơ, bố cục, sự lặp lại có chủ ý của Trần Dần trong mùa sạch đã làm gợi lên trong Tâm (phần hồn thúc đẩy bản ngã vật chất của người đọc) những hình ảnh và cảm xúc rất mơ hồ, sơ khởi nhưng vô cùng ấn tượng và đẹp đẽ. Thiên nhiên đẹp dẽ trong Mùa Sạch có cái gì đó còn hơn cả nghệ thuật. Đơn sơ hơn và mạnh mẽ hơn, như là một concept.

4.2

Giống như trong kịch cổ điển, phần bè phụ luôn nói với khán giả về một cái gì đó khác với những gì đang diễn ra trên sân khấu chính. Bè phụ cho khán giả biết một âm mưu đang rình rập xung quanh các nhân vật chính. Hay chỉ là một thông tin về thời tiết bên ngoài.

Trần Dần đã đưa bè phụ của kịch cổ điển vào thơ và thơ-văn-xuôi của ông. Để biểu hiện bè phụ và rhythm của nó, ông đã dùng chính tả và ngữ pháp. Các chữ in nghiêng, viết hoa, từ viết ’sai’ chính tả, các dấu chấm phảy bất thường đã mở vào đầu người đọc tới hai hoặc nhiều hơn các lối đi.

Tập Jờ Joạcx (1963) là đỉnh cao tuyệt đối của thi pháp này (tính đến nay). Có thể gọi đây là dòng “nghệ thuật khái niệm duy thức” giai đoạn Thức (vijñāna).

Những CON CHỮ chạy trên mặt giấy, dưới thủ pháp sắp đặt theo chủ ý có tính thị giác của Trần

Dần, biến thành dòng NGÔN TỪ chạy theo các cửa khác nhau vào nhận thức của người đọc. Nó làm gợi lên trong người đọc những gì sơ khởi nhất của nhận thức (Thức như là mặt bên kia của Tâm, và tách biệt với bản ngã vật chất của con người). Tuy rất mơ hồ và khó hiểu, nhưng quả thực cái tôi và các phản tôi trong Jờ Joạcx cũng vẫn gây ấn tượng rất mạnh lên nhận thức của người đọc. Mơ hồ nhưng mạnh mẽ, như là một concept vậy.

5.

Tôi cho rằng Trần Dần sử dụng thơ như một chất liệu để xây lên đó một ngôn ngữ Việt có tính nghệ thuật cực kỳ hiện đại chứa ẩn nhiều tầng tâm thức. Cho đến nay, ngôn ngữ chạy trên thơ và thơ-văn-xuôi của Trần Dần hoàn toàn khác với tất cả những nhà thơ khác, kể cả những nhà thơ là bạn của ông.

Ngôn ngữ nghệ thuật của Trần Dần giống như một IP Core Network.

Chạy trên nó là những bài thơ có tác dụng như access platform, để người đọc qua đó truy cập được vào các tầng ngôn ngữ.

MƯA RƠI KHÔNG CẦN PHIÊN DỊCH

(Trần Dần)

*

**

Đọc “Đêm Núm Sen” của Trần Dần

Tôi thích Đêm Núm Sen – Trần Dần vì những gì cuốn này không có.

Không Hà Nội mà ai cũng biết. Không nội dung mà ai cũng viết.

Không cốt truyện lằng nhằng. Không cao trào kịch tính. Không tuyến phụ tuyến chính. Không bối cảnh mè mầu.

Không nhân vật thâm sâu. Không tính cách tai quái. Không tuyên ngôn biến thái. Không trí thức điên rồ.

Không nghệ sĩ bờ hồ. Không lưu manh phố chợ. Không chính trị oan nợ. Không tư tưởng đau đầu.

Không trèo sấu trèo me. Không hoa sữa vỉa hè. Không mùa thu tỏa nắng. Không rét ngọt đông về.

Không dương cầm, sâm cầm. Không món ngon phố cổ. Không tào lao nhí nhố. Không xe điện đi về.

***

Đọc Đêm Núm Sen.
Thấy bao nhiêu nhào trộn.

Nhào trộn dài tích tắc
Nhiều hàng ki lô mét

Trần Dần trộn phố vào làng.

Làng của Trần Dần có đại lộ, quảng trường. Làng của Trần Dần có thợ rừng, thợ thủ công. Có cả công nhân, thợ máy.

Làng của Trần Dần có cổng làng. Có luôn cả tòa thị sảnh.

Làng của Trần Dần có phố cao sang, có phố nhà hàng, có phố lang thang.
Có nhà hộ sinh. Có giao thông hào. Có biệt thự đá.

***

Cái đầu gối nối đùi với cẳng. Cái khoác lưng nối gái với trai. Có những con đường nối làng với phố. Có quán bia hơi nối người với nhau.

Trần Dần nhào làng Liễu Giai, Đại Yên, Ngọc Hà vào nhau. Rồi nối vào Phó Đức Chính, Hàng Bún, Hàng Than. Nối sang Phan Đình Phùng nối vào Hàng Giấy.

Hàng Giấy nối sang Hàng Chiếu, Hàng Buồm.
Cây cầu cong nối tới Tràng Tiền.

***

Cái biệt thự Đá Đỏ nhà cô Sứa. Hơn mười năm trước. Tôi vẫn thấy đâu đây trên Phó Đức Chính. Chắc nay vẫn còn?

Cái biệt thự làm bản lề nối thành phố với nhà quê.
Nối gái Hà Thành với giai Nam Định.
Mối nhục cảm con người giao khoái cảm thủ đô.
Qua  Phan Đình Phùng – Đại Lộ Mùa Thu – giao vào cổng thành Cửa Bắc.

***

Kiến chúa nằm đẻ con. Nhà hộ sinh bà Bệu. Bệnh viện Xanh Pôn.

Kiến công nhân làm nhà máy điện Yên Phụ.

Bồ Đào là Hàng Buồm. La Tinh là Hàng Giấy.
Hy Lạp khá rõ phố Tràng Tiền.

Quảng Trường Ánh Trăng, là nhà thờ Các Tút.
Nay Ba Đình nơi mộ chôn ông bác nhiều người gọi cha già.

Ông bác ấy, trong Đêm Núm Sen, có phải bác Bay?

Trộn Pháp Nhật Tưởng, thành quân kiến Đầu Beo.

Nhào mặt trận Liên Việt chống Pháp thành hiệp ước liên làng.

Trộn Hà Nội 1946 với thời tạm chiếm.
Trộn luôn chiến dịch Việt Bắc loi nhoi thích tổng phản công.

Nhào Nguyễn Chí Thanh thành ra tướng Rỗ.

Trộn Nguyễn Đình Thi với chính mình thành gã Cồ Bồ Xồ

Cả bãi sông Hồng đá gà nhào thành Cổ Loa luyện võ.

Nhào cổng thành Bắc vết đạn hõm thành nơi đôi lứa hẹn núp trăng.

Nhào cả không khí tình dục giai quê vào nơi thành phố. Trộn không khí thời bình vào sự hối hả của chiến tranh.

Có cưỡng dâm. Có xin biết mùi đời khi rơi vào cõi chết. Có lắp đít những cậu ái nam. Có trốn nhiệm chỉ huy vào nhà xí tòng teng với vợ.

Trộn tình ca vào lẫn phố ca. Trộn hoa vào lưỡi kiếm. Trộn thuộc địa vào lòng tạm chiếm. Trộn mồ hôi vào với mồ hôi.

Trộn thành Nam vào thành Thăng Long. Trộn nhà máy dệt lạch cạch vào nhà đèn xịt khói.

Trộn những người đi qua chiến tranh, và những người buông dở. Trộn người khôn vào với người thiêng.

***

Trên tất cả

Trộn một người tình quốc dân đảng vào nữ tự vệ thủ đô.

Lột chiến bào đỏ là ra tà áo trắng
Đùi dài trong suốt
vú núm sen mải mướt

Chỉ còn trong tâm tưởng

Người lính trận trở về
Chèo thuyền đơn
Mặt hồ sen sau tiếp quản thủ đô.

Đăng tải tại sách, sống | Thẻ | 5 bình luận

Tây Tạng

 Thực ra Tây Tạng không nổi tiếng như người ta nghĩ. Di sản văn hóa của Tây Tạng cực kỳ lớn, nhưng sự nổi tiếng của nó lại đến từ chính trị và nỗ lực marketing place của một con người.

Hơn một trăm năm trước đây, chỉ có người Ấn và thực dân Anh quan tâm đến Tây Tạng.

Mặc dù trong quá khứ, lúc thì Tây Tạng thuộc Mông Cổ, lúc thuộc Ấn, lúc thuộc Anh, lúc thì thuộc Trung Hoa (trước cách mạng), nhưng về bản chất chính trị thì Tây Tạng luôn ở chế độ tự trị, bất kể về mặt lãnh thổ họ thuộc quốc gia hay đế chế nào.

Về mặt văn hóa, người Tây Tạng và chính quyền Tây Tạng trong quá khứ cũng như hiện nay, luôn coi Tây Tạng như một concept mà trong đó lãnh thổ Tây Tạng phủ rộng đến tất cả những nơi nào mà văn hóa Tây Tạng có ảnh hưởng mạnh mẽ. Những mảnh đất đó có thể thuộc Nepal, Butan hay Ấn, hoặc các tỉnh lân cận trong lãnh thổ Trung Quốc. Người Tây Tạng có tập quán, chữ viết, văn hóa dân gian, triết học, kiến trúc, mỹ thuật hoàn toàn khác với người Hán.

Là một mảnh đất cổ xưa, thấm đẫm văn hóa Phật giáo, và là quê hương của Mật thừa, cho nên chính quyền Tây Tạng chỉ mạnh về tôn giáo và tinh thần, không mạnh về chính trị và quân sự.

Tuy nhiên lịch sử thế giới, với mô hình toàn cầu hóa kiểu cũ bắt đầu từ thời Alexander, nổi lên bằng Napoleon, và đạt đỉnh cao thời kỳ thực dân đã mang đến Tây Tạng sự giao lưu văn hóa có tính đột biến. Giới tu sỹ và văn nghệ sỹ Tây Tạng bắt đầu giỏi ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh thực dân, qua đó quảng bá triết học, văn học, tư tưởng sâu đậm của Tây Tạng qua phương tây.

Lợi dụng sự thay đổi mạnh mẽ về toàn cầu hóa kiểu cũ, cụ thể là phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, khi người Anh và Ấn có nhiều mối bận tâm khác, còn người Hán còn đang loay hoay làm cách mạng, Tây Tạng lần đầu tiên có một chính quyền mạnh mẽ hơn. Trong một thời gian ngắn ngủi đầu thế kỷ trước, hai lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng là Dalai Lama 13 và 14 đã xây dựng một chính quyền mạnh hơn chính quyền tự trị vốn có (có quốc hội, quân đội, tiền tệ, bưu chính riêng của Tây Tạng). Lưu ý là Tây Tạng không đặt nặng vấn đề lãnh thổ, học chỉ đặt nặng vấn đề tự trị. Vả lại, đối với họ Tây Tạng vô cùng rộng lớn về mặt địa lý, và còn rộng lớn hơn về mặt văn hóa cho nên lãnh thổ thuộc về ai thì cũng thế thôi.

Năm 1950, quân đội cách mạng TQ tiến vào Tây Tạng. Mọi thứ vẫn bình thường. Năm 1959, Dalai Lama 14, quân đội và nhân dân Tây Tạng khởi nghĩa nhưng bị dẹp tan trong máu. Lama 14 chạy ra nước ngoài và thành lập chính phủ lưu vong. Cho đến giờ người ta vẫn chỉ gọi ông là Lãnh Tụ Tinh Thần Lưu Vong của Tây Tạng. Trong khi đó cách mạng văn hóa và sự thôn tính về chủng tộc của người Hán đã gây ra thảm họa văn hóa cho Tây Tạng. Theo các số liệu khác nhau thì số lượng tu viện, trong đó đa phần là tu viện cổ, bị phá hủy trong thời kỳ cách mạng văn hóa là từ 6 ngàn đến 20 ngàn. Số lượng thanh niên Tây Tạng bị sát hại hoặc bị đi đày là trên 200 ngàn người. Trong đó có nhiều phật sống.

Trong suốt những năm lưu vong, đức Dalai Lama đã đi vòng quanh thế giới để quáng bá Phật Giáo, Văn Hóa Tây Tạng và đòi tự do cho Tây Tạng. Ông đi rất nhiều, giảng đạo rất nhiều, diễn thuyết rất nhiều. Nỗ lực không mệt mỏi của ông đã làm nổi tiếng Tây Tạng và Văn Hóa Tây Tạng. Nếu không có Dalai Lama, có lẽ thế giới biết rất ít đến Tây Tạng. Cũng nhờ nỗ lực này mà đức Dalai Lama đã được trao giải Nobel Hòa Bình. Tất nhiên giải Nobel Hòa Bình là giải khá vớ vẩn trong hệ thống giải này, cũng đồng thời mang nhiều màu sắc chính trị. Tuy nhiên, dù sao, giải vẫn là một sự trân trọng đặc biệt dành cho đức Dalai Latma.

Năm nay là một năm đặc biệt đối với TQ, khi họ đứng ra tổ chức Olimpic 2008 ở Bắc Kinh.

Thường thì sự kiện tổ chức Olimpic là sự kiện của một thành phố, nhưng TQ đã đưa thành sự kiện quốc gia.

Sự kiện này tất nhiên là lôi kéo quan tâm của cả thế giới, và ai cũng muốn sử dụng (lợi dụng) nó cho mục đích của mình. Đặc biệt là ngày nay, khi toàn cầu hóa và thông tin tràn lan khắp thế giới thì lại càng có nhiều cách để tận dụng một sự kiện lớn.

Đầu tiên là đạo diễn thượng thặng của Hollywood là ông Spielberg đột ngột rút lui, không làm đạo diễn lễ khai mạc Olimpic Bắc Kinh. Ông muốn phảnđối sự tài trợ khổng lồ của chính phủ TQ vào vào các nước độc tài Châu Phi, cụ thể là để phản đối nạn diệt chủng ở Dafur.

Sau đó là ca sỹ Bjork lên tiếng về Tây Tạng.

Ngay trước cuộc rước đuốc (đi qua Tây Tạng) thì người dân Tây Tạng đã ”nổi lọan”.

Đài Loan đã dọa dẫm tẩy chay Olimpic.

Thái tử Charles của vương quốc Anh đã tuyên bố không đi dự khai mạc. Thủ tướng Anh đã tuyên bố sẽ đón tiếp Dalai Latma khi ông tới Anh tháng 5 tới đây. Thủ Tướng Anh Brown cũng đã gọi điện cho thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo về vấn đề Tây Tạng.

Thủ tướng Ba Lan cũng chính thức tuyên bố ủng hộ Dailai Lama và không đi dự khai mạc Olimpic.

Trong lúc đó TQ đã cấm người nước ngoài vào Tây Tạng. Các kênh truyền thông quốc tế chỉ đưa tin mơ hồ về Tây Tạng, ngoài ra chỉ có hình ảnh quân đội và cảnh sát TQ tiến vào Tây Tạng. Số lượng người chết từ các nguồn tin khác nhau là khác nhau. Đài TH của TQ nói người chết là người Hoa. Còn bên Tây Tạng lưu vong thì nói người chết là người Tây Tạng.

Đài truyền hình TQ hôm qua lần đầu tiên chiếu các cảnh náo lọan ở Tây Tạng cách đây một tuần. Các cảnh người dân Tây Tạng đập phá, đốt, đánh các doanh nghiệp và ngân hàng ở thủ đô Lhasha Tây Tạng (chắc là của người Hán). Đài TQ cũng quay cảnh phỏng vấn dân Tây Tạng, đa phần đều nói giống nhau là tình hình bất ổn do người nổi lọan gây khó khăn cho đi học, kinh doanh, sinh họat.

Chính phủ TQ cũng cáo buộc Dalai Lama và bè lũ của ông (clique) là đứng sau cuộc bạo loạn này bằng cách lên kế họach, tổ chức và xúi giục. Họ cũng nói là có hơn 100 người cầm đầu đã ra “đầu thú”. Họ yêu cầu Dalai Lama chấm dứt việc này.

Hôm qua Dalai Lama đã nói ông không có tý quyền lực nào (poweless) trong cuộc nổi dậy ở Tây Tạng. Ông sẵn sàng từ chức nếu việc này làm yên ổn tình hình. Ông cũng sẵn sàng đối thoại với chính phủ Tquốc. Ông cũng nhấn mạnh là ông không đòi độc lập về mặt lãnh thổ của Tây Tạng, ông chỉ muốn Tây Tạng được tự trị (qua đó ngăn chặn được làn sóng Hán Hóa ngày càng mạnh ở Tây Tạng).

Còn vài ngày hôm nay, bất ổn đã lan ra các tỉnh lân cận, không còn chỉ ở Tây Tạng nữa. Chính quyền TQ đã xác nhận việc này sáng ngày hôm nay. Tân Hoa Xã cũng xác nhận là cảnh sát đã bắn vào đoàn biểu tình và làm bị thương 4 người.

Những người đòi tự do cho Tây Tạng đang đòi ủy ban olimpic quốc tế không được rước đuốc qua Tây Tạng. Nhưng việc này chắc khó được chấp nhận.

Còn về mặt ngọai giao, thực ra cho đến nay, chưa có nước nào công nhận có quan hệ ngoại giao với Tây Tạng, kể cả là trong quá khứ.

Đăng tải tại Uncategorized | 2 bình luận

Hội Chợ Sách HCMC

Bận quá, ko mở mắt ra nổi.

Tính làm cái entry về hội chợ sách ở SG mà ko thể ngồi tỉa ra được nữa. Mà thực ra cũng không biết nhận xét gì nữa. Xưa nay hội chợ sách thì ở HCMC luôn làm to và hoành tráng hơn HN. Duy nhất có hội chợ sách 98 (hình như thế) ở HN là to, mà cũng là nhờ năm đó Fahasa HCM dẫn quân ra ồ ạt để diễu võ dương oai.

Không biết ở các nước khác có nước nào làm bookfair hoặc bookexhibition ngoài trời không. Những cái mà tôi đã nhìn tận mắt thì toàn là làm trong nhà. Riêng VN thì làm mấy lần ngoài giời rồi. Lần này thì làm ở công viên Lê Văn Tám. May mà trời không mưa và cũng không quá nóng. Chứ không thì eo ôi. Giấy mà ngâm nước thì biết rồi đấy.

Fahasa chăm sóc các nhà xuất bản rất kỹ. Tập đoàn Cengage (tên mới của Thomson) có gian to nhất. Họ cũng tranh thủ launch cuốn sách Bài học thành công của Sinpagore (tiếng Việt, in ở Singapore). Routlege (thuộc Taylor Francis) và Springer có gian hàng giản dị và khiêm tốn, mặc dù sách của tụi này thuộc loại ác liệt. Alpha Science (không phải AlphaBook của Cảnh Bình&Friends) cũng có gian hàng nhỏ, sản phẩm khá ấn tượng, cũng thuộc loại highclass. Mỗi tội không hiểu sao lại đứng cạnh MacMillan nhà qué và bên kia là đối thủ cạnh tranh McGraw-Hill. Pearson vốn hoành tráng cả chục năm nay với các nhà xuất bản mua lại từ Simon& Schuster như Prentice Hall, Sams, Que, hoặc mua đứt cả nhãn như Longman, Addison Wesley cũng có gian hàng to lắm.

Các nhà xuất bản đều có người qua dự, trừ đại gia John Wiley thì chỉ có gian hàng. Riêng Elsevier chỉ cử nhóm HealthScience qua. Sách trưng bày phần nhiều là sách cũ (chắc là của Fahasa). Nói chung thị trường VN đến giờ vẫn là mảnh đất cằn cỗi đối với sách ngoại. Qua các câu chuyện goosip với các bạn xuất bản nước ngoài, tự nhiên thấy mình cũng không bị lạc hậu lắm với thị trường, thậm chí còn cảm nhận tốt hơn là khác, hehe.

Sách quốc văn thì vẫn sôi động và hơi chợ chợ như thế. Tuy nhiên có một vài nhà xuất bản nhà nước có nhiều sách hay phết, nhất là các bác hay có sách chuyên khảo và sách ảnh về Saigon (tự nhiên quên bác này tên là gì, vì định mua mà thấy đắt tiền quá). Các nhà xuất bản về tôn giáo nhiều sách phết, mua được hai chục cuốn về Phật giáo. Riêng tạp chí Văn Hóa Phật Giáo có nhà sách bán trọn bộ 2007 và 2006. Nghiến răng mua, về nhà mở ra thấy họ đưa nhầm, cả hai đều là 2007. Nói chung rơi vào chỗ nào có sách là y như rằng tối về nghĩ lại thấy sót ruột.

Năm nay Phương Nam làm to và sôi động nhất. Buổi nào đến cũng đang thấy giao lưu với dịch giả hoặc tác giả. Thiên hạ ngồi nghe chăm chú lắm. Kể cả các buổi làm vào buổi chiều nóng nực. Điểm thú vị nhất và các nữ độc giả đi mua (xem) sách khá đông, nhiều người khá là kiều diễm.

Có một nhà sách tên là Sách Hà nội gì đó. Vào đấy toàn thấy sách văn học và cận văn học của các bạn ngoài này như Đông Tây, Bách Việt, AlphaBook, Tri Thức. Chỉ có một cái ngạc nhiên là mấy ngày đi quanh quanh khu đó mà lại không thấy Nhã Nam đâu. Chả lẽ lại bỏ sót khu nào có Nhã Nam.

Các nhà xuất bản ngoài bắc có lẽ kéo quân vào đông. Đi ăn trưa ở Press Cafe cũng thấy một đám đông. Đi ra sân bay cũng gặp. Cafe cũng gặp. Mỗi tội không biết ai là ai.

Buổi chiều dân tình vào Lê Văn Tám tập thể dục như bình thường, nhìn cũng vui mắt, các dòng người mặc quần đùi áo cộc chạy vòng vòng quanh cái công viên ấy. Thủa còn ở SG và chưa lên ký, sáng nào tôi cũng làm mấy vòng ở đấy. Nay nhìn thấy thiên hạ chạy, đã thấy toát cả mồ hôi.

PS: Hôm nay thì báo TTVH là báo đầu tiên đưa tin về riot ở Tây Tạng. Nội dung bài báo (của tác giả Gia Bào) giống y giọng Tân Hoa Xã, đổ hết tội cho bè lũ (clique) Dalai (Latma).

Nếu ai nghiên cứu lịch sử 1 chút thì sẽ thấy những gì TQ làm ở Tây Tạng từ năm 1950 đến nay không khác gì Mã Viện làm với Lĩnh Nam thời Hai Bà Trưng. Ngài Dalai Latma gọi là ‘diệt chủng văn hóa’ hẳn cũng có lý của ngài.

Đăng tải tại đời | 1 bình luận

Đi Chơi

 1.

Chat với bạn, bạn bảo chủ nhật này tao đi Bến Tre. Chợt nghĩ là chưa đi Bến Tre bao giờ. Liền bảo bạn là cho tao đi với.

Tới SG lúc sau nửa đêm. Ngủ mấy tiếng là dậy đi ra chỗ hẹn.

Trên xe có hai vị giáo sư già, thuộc loại cây đa cây đề của khoa học nông nghiệp Việt Nam.. Bọn tôi gọi hai cụ bằng thầy, xưng em, giống như sinh viên vậy. Một thầy sinh năm 31, vốn là việt kiều Pháp, quay về xây dựng tổ quốc theo lời gọi của cụ Hồ năm 60. Một thầy sinh năm 38. Hai thầy lớn tuổi nhưng vẫn khoẻ mạnh và nhanh nhẹn lắm. Nghe nói vẫn có thể xuống ruộng cày với nông dân. Hai thầy đi Bến Tre chấm thi giống vú sữa mới. Chúng tôi bám càng theo.

Suốt cả chuyến đi, vốn bản tính tò mò, tôi đã đặt vô số câu hỏi với các thầy. Từ các câu hỏi về Lương Định Của, Vũ Tuyên Hoàng. Đến các câu hỏi về thâm canh, quảng canh, thuỷ lợi, giống và đất. Thật là một chuyến đi chơi bổ ích.

Chắc nhiều người biết đến Bến Tre qua các tour du lịch sông nước đi từ Tiền Giang qua. Đi các tour này sẽ thấy Bến Tre như một ốc đảo tứ bề là nước, có các lò nấu kẹo dừa, và có cù lao Rồng, nơi ông đạo dừa sống cuộc sống hippie khỏa thân cùng rất nhiều bà vợ và đệ tử của mình. Cũng sẽ có nhiều người biết đến Bến Tre như là quê hương của Đồng Khởi, là mảnh đất cách mạng miền Tây. Không kể thời chống Pháp, ngay cả thời VNCH, ít khi chính quyền VNCH tiến quân được vào Bến Tre. Mặc dù có trạm đóng quân ở phía Rạch Miếu nhưng không mấy khi đưa quân vào nổi, chỉ lâu lâu pháo kích và ném bom.

Bởi vậy nên dân Bến Tre rất bảo thủ và tự tin. Trong công tác tổ chức chính quyền, người ta có câu “Nhất Trụ Nhì Khu, Tam Tù Tứ Kết” để phân định mức ưu tiên trong việc đề bạt cán bộ. Nhất trụ là ưu tiên số một cho những người bám trụ địa phương. Nhì khu là sau đó mới đến những người đi chiến khu 9. Tam tù là tới những cán bộ bị địch bắt. Tứ kết là những người tập kết, được xếp ở mức cuối cùng.

Bến Tre bản thân đã là một khu vườn khổng lồ, nó khổng lồ đến mức chạy xe hơi ở Bến Tre cứ như là đang chạy trong lòng khu vườn ấy vậy.Điểm đến là một vườn cây nhỏ ở huyện Chợ Lách. Chợ Lách là huyện trù phú nhất của Bến Tre, nước ngọt quanh năm, hoa trái bốn mùa. Chợ Lách cũng là vùng đông dân công giáo nhất. Nơi đây chính là quê hương của học giả linh mục lừng danh Petrus Trương Vĩnh Ký. Bức ảnh chụp phía trên là con đường dẫn vào khu vườn mà chúng tôi đi theo hai thầy già đến chấm thi.

2.

Quay lại SG thì có điện thoại của một người bạn khác. Bảo ra 37 Đồng Khởi ăn Phở. Ăn Phở ở SG đã là một sự kỳ cục đối với một người vừa từ Hanoi vào. Lại càng kỳ cục hơn nữa khi phở ở Đồng Khởi.

Bạn ngồi với một người đàn ông lớn tuổi, rấp đẹp, nhìn rất quen. Bạn hỏi Xu biết chú Trần Quang không. Xu bảo Xu không biết, chú Trần Quang là ai vậy. Bạn bảo Ảnh Đế đấy. Thế là óc Xu chạy rẹt rẹt, các tư liệu có trong óc Xu về ngôi sao điện ảnh Trần Quang được refresh chỉ trong mấy giây. Thế là có cái để nói chuyện rồi. Híhí. Tổng hợp thông tin cũ trong óc của Xu và thông tin Xu mới hỏi diễn viên Trần Quang, thì ra vài net tóm tắt sau đây. Chủ yếu là các câu chuyện cũ, còn phim chú Trần Quang đóng sau 75 thì khá nhiều, khoảng 40 phim, trong đó nhiều phim hay.

Photobucket

Trần Quang vốn là dân kịch nghệ SG cũ. Đi lính biệt kích dù (chắc do cao lớn lại có võ nên lúc bị bắt lính là đi qua lính dù). Tham gia đóng phim đúng vào lúc điện ảnh SG đang thăng hoa. Lại đóng đúng phim về thám báo, là bộ phim “Xin nhận nơi này làm quê hương” nên nổi lên luôn và được đưa về SG làm dân văn nghệ của quân đội VNCH. Sau đó Trần Quang mỗi năm đóng độ 4 đến 5 phim, trong tổng số chừng 10 phim SG sản xuất mỗi năm. Bộ phim “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa chính thức đưa Trần Quang thành vua của điện ảnh SG khi bộ phim này và nhân vật Hoàng Guitar do Trần Quang đóng đã có tới hơn 6 triệu lượt người xem và chiếu ròng rã ở 12 rạp (trên tổng số 50 rạp ở SG). Soundtrack của bộ phim này là của Phạm Duy, do Elvis Phương hát, cũng thành hit trong năm đó. Đây là bộ phim nội đầu tiên đè bẹp phim nhập khẩu từ Mỹ và HK. Năm 1971 thì Trần Quang có tham gia cùng Kiều Trinh (superstar của điện ảnh SG hồi đó) đóng một bộ phim khác cũng có nội dung về lính VNCH có tên gọi “Người Tình Không Chân Dung” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Bộ phim này đã đoạt một loạt giải thưởng quốc tế hồi đó. Chủ yếu là các giải quan trọng như kịch bản, diễn viên …

Hình ảnh của Trần Quang trước 75 là một hình ảnh lai giữa Clark Gable và Marlon Brando. Một hình ảnh đàn ông, đa tình, phản kháng xã hội và thượng võ.

Sau 1975, Trần Quang đóng rất nhiều phim. Trong đó có một bộ phim rất đặc biệt là phim Con Thú Tật Nguyền của đạo diễn Hồ Quang Minh. Bộ phim này ra đời năm 1984 nhưng không được chiếu vì cũng nói nhiều đến biệt kích dù của VNCH. Sau đó nhờ thời kỳ mở cửa của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà bộ phim này được đến với công chúng. Thời kỳ mở cửa ngắn ngủi đấy đã cho ra đời một nhà văn (nay đã tàn) là Nguyễn Huy Thiệp và làm hồi sinh một ngôi sao.

Trần Quang kể lại chuyện làm phim Con Thú Tật Nguyền mà vẫn còn xúc động. Bởi năm 84 còn nghèo và thô sơ lắm. Làm phim tâm huyết là chính. Bên quân đội hỗ trợ hết mình. Trần Quang bảo nếu không có hai ông thiếu tá lái máy bay quá giỏi thì chết trong lúc làm phim rồi. Vì máy bay là máy bay cũ của quân đội Mỹ, cái thang dây cũ quá rồi. Đóng cảnh biệt kích leo từ dưới lên, Lê Cung Bắc leo xong rồi, đến lượt chú leo lên thì đứt 1 dây, cái thang nó giật và quay vòng vòng, quật chú vào các gốc cây. Hai ông thiếu tá phải lái rất giỏi mới giữ cho máy bay đứng yên để chú nhảy xuống đất. Xong cảnh đó Lê Cung Bắc chết ngất trên máy bay, còn hai ông thiếu tá toát mồ hôi, run chân tay.

Sau này Trần Quang qua Mỹ sống. Cũng là nhờ vào hụt vai Nguyễn Thành Luân (Ván Bài Lật Ngửa) mà đi được. Nhưng cũng là cái tiếc khi tuột mất một sự cộng tác với tên tuổi Lê Hoàng Hoa.

Trần Quang quay về VN với nhiều dự định kinh doanh, chắc chắn trong đó không thể thiếu những gì liên quan đến điện ảnh. Chỉ có điều xã hội và môi trường làm ăn nay phức tạp hơn nhiều, còn người đàn ông 66 tuổi Trần Quang đầy phong độ như năm nào, có vẻ như vẫn hồn nhiên lãng mạn quá.

Đăng tải tại đời | 1 bình luận

Tuyển Tập Trần Dần

Hãy sống như những con tầu phải lòng muôn hải lý
Mỗi ngày bỏ sau lưng nghìn hải cảng mưa buồn

***

Hôm nọ, cụ thể là cái hôm rằm tháng Giêng, mà là ban ngày, có bạn nhắc là ngày hội thơ thường niên ở Văn Miếu. Lại là lần thứ 6 cơ đấy. Đang rảnh nên ghé qua ngó nghiêng. Tại đọc báo thấy năm nào cũng nhắc đến cái ngày thơ này, mà lại thường xuyên có món lạ, nên cũng phải đi xem một phát cho thêm tinh thần văn nghệ sỹ, nhân tiện bỏ bớt tính tiểu nông quê mùa. Đại khái là chả mấy khi vào Văn Miếu, rửa chân phát cho cái móng đỡ phèn.

Mẹ, hóa ra còn phèn hơn. Vãi cả lúa.

Xưa nay ai cũng biết Thơ bản chất tự nó có tương tác với cuộc sống và đương nhiên là có tương tác với tất tần tật các loại hình nghệ thuật khác. Ví dụ như nhạc chả hạn. Phú Quang, nhạc sỹ mỹ ký vĩ đại nhất Hà nội, chả xây dựng cả sự nghiệp vàng mạ của mình bằng việc phổ nhạc cho thơ đấy hay sao. Còn cái mục tiếng thơ trên đài tiếng nói VN ngày xưa (ko biết giờ còn không) lại chả ngâm thơ trên nền gảy đàn thập lục tí tách mấy chục năm trời. Rồi thơ trong chùa là các bài kệ ngâm nga í a í ới cùng tiếng mõ.

Nhưng mà ở cái ngày thơ hôm rồi ở Văn Miếu, ở sân trơi thơ chẻ, các nhà thơ cứ làm như đây là khám phá vĩ đại của làng văn nghệ thế kỷ 21. Lại còn đưa cả hip con bà nó hốp vào phụ họa nữa. Đến chết. Giữa trưa nắng 27 độ, thơ đọc qua loa phóng thanh pha trộn đủ các loại hình nghệ thuật khác vui đáo để, mỗi tội là không thấy bán kẹo kéo với leo cột mỡ. Mà cái quan trọng nhất của thơ, bất kể là perfomance ra sao, là ngôn ngữ rót vào tai thính giả, thì cứ bị ném mẹ nó đi đâu ấy.

Về nhà đọc blog mới biết là có vụ không cho bán tuyển thơ mới xuất của Trần Dần. Với lại có tin đồn cho rằng tập thơ này sắp bị thu hồi. Tối liền qua ngay Nguyễn Xí tính mua một cuốn.

Ngờ đâu tập thơ rất dày, in đẹp, sáng sủa, trắng trẻo, dày dặn. Cầm lên tay, mở ra xem, ngỡ ngàng quá. Người ta nỡ biến Trần Dần thành một thứ sạch sẽ như bồn rửa mặt cao cấp sặc mùi thuốc sát trùng thế này sao. Thật là ghê rợn. Không phải là tuyển tập Trần Dần, mà phải gọi là Tiêu Bản Trần Dần theo phong cách Dương Tường thời hồi xuân sau mở cửa mới đúng. Thật là tàn nhẫn.

Thế là bỏ không mua nữa. Hôm nay nghe nói bị ngừng phát hành rồi. Làm thế là đúng. Không thể để Tiêu Bản Trần Dần đi vào mainstream với giá 70 ngàn chưa discount như thế được. Cái gì thuộc về underground mãi mãi thuộc về underground. Trần Dần không phải cái để mà trưng lên giá sách. Lại càng không phải cái gối đầu giường. Lại càng càng không phải cái để mang ra đọc trong lúc uống latte ở Highlands. Trần Dần không bao giờ có tiêu bản.

Dịch giả tài năng Dương Tường hôm ngày thơ cũng tham gia performance poetry bằng một bài thơ thuộc loại khá nhất của ông cùng với sự hỗ trợ của hai nhà thơ nữ Dạ Thảo Phương và Phan Huyền Thư. Thơ của ông Dương Tường thì mọi người biết rồi, về cá tính, sự sáng tạo, hình ảnh thì là bản sao mờ nhạt của Trần Dân, về ngôn ngữ thì là sự bắt chước vụng về Lê Đạt. Cái bài thơ hôm vừa rồi, may sao, là bài khá nhất của ông.

Btw. Có cảm giác như tất cả các nghệ sỹ VN, dù là nhạc sỹ, họa sỹ, thi sỹ, …lúc giàu có lên rồi, đều sáng tác như kẹt hoặc như lìn (tùy là nữ hay nam). Thế là thế chó nào? Thật là phản xã hội.

 

 

Đăng tải tại nhảm | 3 bình luận

Phục Dựng Tháp Báo Thiên

Mấy hôm trước Tết đọc báo thấy Hà nội có ý tưởng phục dựng lại tháp Báo Thiên, một trong An Nam Tứ Đại Khí. Tuy nhiên ngoài việc tiền bạc, thì vị trí dựng tháp nay không còn nữa (chỗ cũ hiện là nhà thờ lớn Hà nội) và kiến trúc ngọn tháp nguyên thủy ra sao thì không ai biết. Sử sách chép về ngọn tháp hoành tráng này rất sơ sài.

Mấy hôm Tết rảnh rỗi, ngồi ngâm cứu sách vở, cộng với trí tưởng bở phong phú, và kiến thức vụn vặt, tôi ngồi bốc phét đầu năm ra kiến trúc của tòa tháp này. Mỗi tội không biết vẽ, nên không làm sao vẽ ra được. Đành google lấy một cái ảnh hao hao về hình dáng để lên trên đây, còn thì dùng lời mô tả. Tòa tháp trong ảnh vốn là ở Nepal. Về kích thước hẳn là bé hơn tháp Báo Thiên rất nhiều. Nhưng về hình dáng bên ngoài thì khá là phù hợp. Điểm khác biệt lớn nhất là tỷ lệ ngọn tháp, gồm 13 mâm tròn đồng tâm xếp lên nhau thì có tỷ lệ tương đối so với phần phía dưới thì lớn hơn rất nhiều. Tầng trệt của tháp Báo Thiên xịn cũng lớn hơn, có 4 cửa quay ra bốn hướng, được sử dụng giống như tam bảo của một ngôi chùa kiểu cổ. Ngoài ra, tháp được xây trên một ngọn đồi cao (chắc cỡ núi Nùng) nên lại càng hùng vĩ. Thế cho nên bão và sét đánh gãy tháp tới mấy lần vào các năm 1258, 1322, 1406.

Về số mâm tròn (số tầng tháp) thì sử sách ghi không khớp nhau. Con số hay được nhắc đến là 12 hoặc 13 tầng. Tuy nhiên tôi cho rằng số 13 là số đúng. Nhưng do cái dù (ô) bằng đồng ở đáy của đỉnh tháp che đi mất 2 tầng, cho nên đứng ngoài mà đếm thì thành 12 (tính cả cái dù là 1 tầng). Trong cái ảnh ở trên, cái dù là phần bằng đồng nằm ngay dưới đáy của ngọn tháp. Ngọn tháp chính là cái hình Mặt Trăng – Mặt Trời – Kim Cương ở phía trên cùng.

Xây tháp có thể xây từ 3 đến 13 tầng, tùy công đức người xây. Tất nhiên vua Lý Thánh Tông, là phật tử của dòng thiền Thảo Đường, phía bắc đánh Tống, phía nam bình Chiêm, thì công đức chắc lớn, nên xây phải xây hết cỡ 13 tầng rồi. Tháp Báo Thiên, cùng với bia văn Sùng Thiện Diên Linh và hội đèn Quảng Chiếu (sử dụng cực nhiều rối cạn và rối nước) là điểm nhấn của Mật Tông lên tôn giáo của các vua nhà Lý.

Trước khi mô tả chi tiết, xin nhắc lại vài nét về tháp Báo Thiên xịn.

Tháp Báo Thiên (còn gọi là Tháp Đại Thắng Tư Thiên) là công trình kiến trúc hoành tráng đầu tiên của Thăng Long. Cũng đồng thời là kiến trúc Phật giáo lớn nhất của Hà nội trong suốt lịch sử ngàn năm của thủ đô. Tháp thuộc chùa Sùng Khánh Báo Thiên nên còn gọi là tháp Báo Thiên cho gọn.

Tháp Báo Thiên, xưa được vua thứ ba của nhà Lý là Lý Thánh Tông xây dựng năm 1057. Trước đó một năm vua cho xây chùa Báo Thiên.

Năm 1136, Nguyễn Minh Không về cung chữa bệnh cho Lý Thần Tông, đi thuyền trên Nhĩ Hà còn nhìn thấy tháp.

Năm 1414, quân Minh bị Lê Lợi vây trong thành, đã dỡ ngọn của Tháp, được đúc bằng đồng, để mang ra làm đạn, bắn nhau với Lê Lợi.

Năm 1791 khai quật khu tháp Báo Thiên, lấy gạch đá để đắp thành Thăng long.

Sau này Pháp chiếm Hà nội, xây nhà thờ lớn trên khu đất của tháp Báo Thiên ngày xưa.

Thế là toi hẳn một ngọn tháp hùng vĩ.

Bây giờ quay lại với kiến trúc ngọn tháp.

+ Nền, hẳn là nền đá, dùng làm móng, trên một ngọn đồi cao.

+ Tầng trệt của tháp. Có bốn mặt. Được xây bằng gạch, có bốn cổng vòm đá (tôrana) ở mỗi mặt. Kích thước mỗi mặt chắc phải cỡ thành Cửa Bắc (hiện vẫn còn). Các viên gạch đều khắc dòng chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo”. Mỗi cổng vòm có hai pho tượng Kim Cương. Kích thước mỗi pho Kim Cương chắc cỡ tượng ở chùa Thầy (cũng được xây tầm đấy, hiện vẫn còn). Ngoài ra còn nhiều tượng chim muông thú khác để decor tâm linh. Để tiếp cận 4 mặt của tầng trệt, phải đi qua ba bậc thềm đá lớn, tượng trưng cho Tam Bảo. Phía mái của tầng trệt, có thể được decor bằng gỗ lớn, giống Tam Bảo của chùa Thầy.

+ Trên nóc tầng trệt là một ngọn pyramid cụt, có bốn bậc, xây bằng gạch. Tượng trưng cho Tứ Vô Lượng.

+ Trên pyramid này là Bình Tịnh Thủy (Bumpa), tượng trưng cho bình chứa nước cam lồ theo phật giáo Mật Tông. Bình Tịnh Thủy trong cái ảnh của một chùa tháp Nepal phía trên có một cửa sổ tượng phật. Có thể tháp Báo Thiên xịn không có cửa sổ này. Bình Tịnh Thủy tượng trưng cho Thất Giác Chi hay còn gọi là Thất Bồ Đề Phần (Thất Giác Đạo). Tiếng Phạn là Satta Sambojjhanga).

+ Trên Bình Tịnh Thủy là chân đế bằng đá (harkima) của cái ô (dù). Ngọn ô (dù) này có cọc (pole) chạy xuyên suốt từ nóc của tầng trệt lên ngọn tháp. Chân đế bằng đá là hình bát giác, tượng trưng cho Bát Chánh Đạo.

+ Trên chân đá, lấy trục ô (cedar pole) làm tâm, là 13 mâm tròn bằng gạch đồng tâm, tượng trưng cho 13 powers của Đức Phật. Trong cái ảnh minh họa phía trên, tỷ lệ không phù hợp với tháp Báo Thiên xịn. Trong thực tế tỷ lệ của phần 13 tầng tháp này so với phần dưới, có lẽ tương đương với tỷ lệ của Cột Cờ Hà Nội so với phần đế (cột cờ hiện vẫn còn). Tầng thứ ba của tháp (là tầng tối thiểu khi xây tháp như đã nói ở trên) có khắc bốn chữ Thiên Tử Vạn Tuế. Cái này rất hay, vua Lý hồi đó cũng đã nhận béng mình là Thiên tử, mặc dù theo thiền phái Thảo Đường.

+ Hết tầng tháp thứ 13 (mâm tròn thứ 13) là một tán đồng, giống cái ô, phủ xuống che hai tầng tháp như đã nói ở trên. Tán đồng này tượng trưng cho Từ Bi (Karuna)

+ Trên cùng là ngọn tháp. Gồm mặt trăng lưỡi liềm, ôm lấy mặt trời, trên mặt trời là kim cương. Mặt trăng tượng trưng cho Bồ Đề Tâm (Bodhicitta). Mặt trời tượng trưng cho Trí Tuệ (Prajna). Kim cương (hoặc ngọc sáng) tượng trưng cho Giác Ngộ. Điều thú vị là ngọn tháp, vốn đúc bằng đồng nặng , có khắc chữ Đao Ly Thiên, có ý nói kinh đô Thăng Long nối liền với bầu trời, là trung tâm của nước Nam, nơi vua Nam trị vì như Thiên Tử. Vừa logic với chữ “Thiên Tử Vạn Tuế” ở tầng thứ 3 của tháp, vừa logic với câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Nó cũng cho thấy vua ngày xưa tuy sùng đạo Phật nhưng vẫn đề cao chủ nghĩa dân tộc.

Tổng chiều cao của cả tháp Báo Thiên chắc phải tới mấy chục mét (30 trượng). Nhìn từ xa, cái thời hồng hoang ấy, thì quả là hoành tráng thật. Nhất là phía trước tháp là hồ Tả Vọng (Hoàn Kiếm), sau là Hoàng Thành, đều không có công trình kiến trúc nào cao lớn cả.

Còn về vị trí phục dựng tháp Báo Thiên. Do Tòa Khâm Sứ có khi bị trả lại cho nhà thờ (miếng đất này đẹp thật, xưa là cái vũ trường Palace khá nổi tiếng) cho nên hơi bí chỗ.

Chỗ còn lại khả dĩ nhất chính là khu đất của vũ trường New Century, hiện đang ngừng hoạt động.

Đăng tải tại đạo | 2 bình luận

Ba Mươi Năm Nữa Hoàng Sa

 Ai cũng nói TQ đang ngày càng lớn mạnh. Kinh tế tăng trưởng ào ào. Sẽ là nền kinh tế lớn nhất vượt qua Mỹ. Rồi thì phóng thành công vũ trụ. Rồi thì đầu tư kinh khủng vào quân sự. Rồi thì hiện đại hóa hải quân. Rồi thì TQ đang thể hiện rõ tham vọng bá quyền, muốn thôn tính biển đông thành ao nhà. Rồi thì nhiều lắm …

Nhưng có gì lạ đâu. Xưa nay, suốt mấy ngàn năm, lúc nào TQ cũng là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chỉ có từ cuối thế kỷ 19 Mỹ mới vượt qua là nhờ công nghệ. Nay TQ cũng tập tọng có công nghệ và lấy lại vị thế cũ.

Nhưng nền kinh tế lớn nhất thế giới này vẫn là nền kinh tế có số dân sống nghèo đói nhiều nhất.

Quân đội TQ cũng vậy, lúc nào cũng hoành tráng, từ thời Tần Thủy Hoàng đến giờ. Nhưng chưa bao giờ họ là đội quân bách chiến bách thắng. Gần đây nhất là nỗi nhục bị phát xít Nhật nó dẫm đạp. Đến giờ vẫn còn nhục không ngước mặt lên được.

Mấy chục năm liền phát triển ngon lành, và từ bây giờ họ sẽ phải trả giá. Mỗi năm họ phải tạo ra 25 triệu việc làm mới để đảm bảo cho kinh tế không suy thoái. 25 triệu new jobs mỗi năm. Thử nghĩ mà xem. Cầm cự được bao lâu. Cùng với việc làm là thiếu hụt trầm trọng năng lượng và ô nhiễm môi trường. Liệu cầm cự được bao lâu.

Càng căng mình ra cầm cự, càng insecurity từ bên trong.

Mấy chục năm trước đây họ đã có một Thiên An Môn. Nhờ sự trung thành tuyệt đối của quân đội và sự đoàn kết cực độ của lãnh đạo TQ mà nhà cầm quyền TQ vượt qua sự biến ấy. Nhưng có mấy ai biết được cũng năm đó, tuần đó, không chỉ có Thiên An Môn mà protest của giới elite TQ xảy ra ở hơn 130 tỉnh thành. Chỉ có điều người ta nhớ đến mỗi Thiên An Môn.

Khác với người Việt chúng ta, người TQ tàn nhẫn hơn, cực đoan hơn, và thù dai hơn rất nhiều. Họ không biết tha thứ như người Việt. Những sự việc như Thiên An Môn, một ngày nào đó sẽ phải trả giá. Rồi sẽ đến Tây Tạng, Nội Mông. Rồi sẽ đến Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ.

Trung Quốc càng phát triển, phân cách giàu nghèo càng lớn, khả năng tiếp cận thông tin càng nhiều, nông dân TQ càng khát khao khởi nghĩa và đòi trả giá. Ngày xưa máu đã đổ ở Tây Tạng, Nội Mông, Thiên An Môn. Thì tương lai TQ sẽ sụp đổ bởi máu của quá khứ.

Nhà cầm quyền TQ còn tồn tại khỏe đến ngày nay là nhờ:

+ Những lãnh tụ đầu tiên của họ là những người có charisma bẩm sinh, họ sinh ra và trưởng thành trong bão táp cách mạng. Họ có nói sai nhân dân vẫn nghe. Người cuối cùng như vậy chính là Đặng Tiểu Bình.

+ Lãnh đạo TQ, dù lúc thế này lúc thế kia, nhưng lúc có biến, họ hết sức đoàn kết để bảo vệ chính quyền.

+ Quân đội TQ đặc biệt trung thành với cách mạng.

Sự kiện Thiên An Môn là ví dụ điển hình của ba điều trên.

Nhưng nay đã khác. TQ ngày càng bất an từ nội tại đất nước, trong nội tại lãnh đạo, và đặc biệt là bất an ngay trong não của các nhà lãnh đạo. Kinh tế càng phồn vinh, họ càng lo sợ. Chiêu bài duy nhất mà họ có thể sử dụng được hiện nay là chủ nghĩa dân tộc mà điển hình là các thành tựu mị dân như phóng vũ trụ, hoặc mạnh mẽ nhất là chủ nghĩa bá quyền. Tức là nhìn tỉnh táo từ ngoài vào, mọi sự khoe mẽ của TQ, đặc biệt là quân sự và gây hấn biển đông, chỉ là sự khỏa lấp đi sự bất ổn trong nội tại TQ và nỗi bất an trong tư duy của các nhà lãnh đạo TQ. Đặc biệt là quân sự, đầu tư đột biến vào quân sự của TQ cho thấy chính quân đội của họ không còn trung thành với cách mạng nữa. Tăng ngân sách đột biến cho quân đội, chỉ là chiêu bài mua lấy sự trung thành của quân đội cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân trong lãnh đạo TQ mà thôi. Còn điều này lại cho thấy, lãnh đạo không còn đoàn kết vì cách mạng nữa.

Nhanh thì 10 năm nữa, chậm thì 30 năm nữa, TQ sẽ sụp đổ. Nó sẽ sụp đổ như sự thật tất yếu là một empire kiểu như thế sẽ phải sụp đổ.

Trong lúc đó VN chúng ta cứ kiên nhẫn làm giàu rồi luyện công.

Nó đổ thì mình sẽ lấy lại những gì mình đã mất.

Dân tộc trả thù, dăm bảy chục năm không có gì là muộn.

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Ba Mươi Năm Nữa Hoàng Sa