Đi Chơi

 1.

Chat với bạn, bạn bảo chủ nhật này tao đi Bến Tre. Chợt nghĩ là chưa đi Bến Tre bao giờ. Liền bảo bạn là cho tao đi với.

Tới SG lúc sau nửa đêm. Ngủ mấy tiếng là dậy đi ra chỗ hẹn.

Trên xe có hai vị giáo sư già, thuộc loại cây đa cây đề của khoa học nông nghiệp Việt Nam.. Bọn tôi gọi hai cụ bằng thầy, xưng em, giống như sinh viên vậy. Một thầy sinh năm 31, vốn là việt kiều Pháp, quay về xây dựng tổ quốc theo lời gọi của cụ Hồ năm 60. Một thầy sinh năm 38. Hai thầy lớn tuổi nhưng vẫn khoẻ mạnh và nhanh nhẹn lắm. Nghe nói vẫn có thể xuống ruộng cày với nông dân. Hai thầy đi Bến Tre chấm thi giống vú sữa mới. Chúng tôi bám càng theo.

Suốt cả chuyến đi, vốn bản tính tò mò, tôi đã đặt vô số câu hỏi với các thầy. Từ các câu hỏi về Lương Định Của, Vũ Tuyên Hoàng. Đến các câu hỏi về thâm canh, quảng canh, thuỷ lợi, giống và đất. Thật là một chuyến đi chơi bổ ích.

Chắc nhiều người biết đến Bến Tre qua các tour du lịch sông nước đi từ Tiền Giang qua. Đi các tour này sẽ thấy Bến Tre như một ốc đảo tứ bề là nước, có các lò nấu kẹo dừa, và có cù lao Rồng, nơi ông đạo dừa sống cuộc sống hippie khỏa thân cùng rất nhiều bà vợ và đệ tử của mình. Cũng sẽ có nhiều người biết đến Bến Tre như là quê hương của Đồng Khởi, là mảnh đất cách mạng miền Tây. Không kể thời chống Pháp, ngay cả thời VNCH, ít khi chính quyền VNCH tiến quân được vào Bến Tre. Mặc dù có trạm đóng quân ở phía Rạch Miếu nhưng không mấy khi đưa quân vào nổi, chỉ lâu lâu pháo kích và ném bom.

Bởi vậy nên dân Bến Tre rất bảo thủ và tự tin. Trong công tác tổ chức chính quyền, người ta có câu “Nhất Trụ Nhì Khu, Tam Tù Tứ Kết” để phân định mức ưu tiên trong việc đề bạt cán bộ. Nhất trụ là ưu tiên số một cho những người bám trụ địa phương. Nhì khu là sau đó mới đến những người đi chiến khu 9. Tam tù là tới những cán bộ bị địch bắt. Tứ kết là những người tập kết, được xếp ở mức cuối cùng.

Bến Tre bản thân đã là một khu vườn khổng lồ, nó khổng lồ đến mức chạy xe hơi ở Bến Tre cứ như là đang chạy trong lòng khu vườn ấy vậy.Điểm đến là một vườn cây nhỏ ở huyện Chợ Lách. Chợ Lách là huyện trù phú nhất của Bến Tre, nước ngọt quanh năm, hoa trái bốn mùa. Chợ Lách cũng là vùng đông dân công giáo nhất. Nơi đây chính là quê hương của học giả linh mục lừng danh Petrus Trương Vĩnh Ký. Bức ảnh chụp phía trên là con đường dẫn vào khu vườn mà chúng tôi đi theo hai thầy già đến chấm thi.

2.

Quay lại SG thì có điện thoại của một người bạn khác. Bảo ra 37 Đồng Khởi ăn Phở. Ăn Phở ở SG đã là một sự kỳ cục đối với một người vừa từ Hanoi vào. Lại càng kỳ cục hơn nữa khi phở ở Đồng Khởi.

Bạn ngồi với một người đàn ông lớn tuổi, rấp đẹp, nhìn rất quen. Bạn hỏi Xu biết chú Trần Quang không. Xu bảo Xu không biết, chú Trần Quang là ai vậy. Bạn bảo Ảnh Đế đấy. Thế là óc Xu chạy rẹt rẹt, các tư liệu có trong óc Xu về ngôi sao điện ảnh Trần Quang được refresh chỉ trong mấy giây. Thế là có cái để nói chuyện rồi. Híhí. Tổng hợp thông tin cũ trong óc của Xu và thông tin Xu mới hỏi diễn viên Trần Quang, thì ra vài net tóm tắt sau đây. Chủ yếu là các câu chuyện cũ, còn phim chú Trần Quang đóng sau 75 thì khá nhiều, khoảng 40 phim, trong đó nhiều phim hay.

Photobucket

Trần Quang vốn là dân kịch nghệ SG cũ. Đi lính biệt kích dù (chắc do cao lớn lại có võ nên lúc bị bắt lính là đi qua lính dù). Tham gia đóng phim đúng vào lúc điện ảnh SG đang thăng hoa. Lại đóng đúng phim về thám báo, là bộ phim “Xin nhận nơi này làm quê hương” nên nổi lên luôn và được đưa về SG làm dân văn nghệ của quân đội VNCH. Sau đó Trần Quang mỗi năm đóng độ 4 đến 5 phim, trong tổng số chừng 10 phim SG sản xuất mỗi năm. Bộ phim “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa chính thức đưa Trần Quang thành vua của điện ảnh SG khi bộ phim này và nhân vật Hoàng Guitar do Trần Quang đóng đã có tới hơn 6 triệu lượt người xem và chiếu ròng rã ở 12 rạp (trên tổng số 50 rạp ở SG). Soundtrack của bộ phim này là của Phạm Duy, do Elvis Phương hát, cũng thành hit trong năm đó. Đây là bộ phim nội đầu tiên đè bẹp phim nhập khẩu từ Mỹ và HK. Năm 1971 thì Trần Quang có tham gia cùng Kiều Trinh (superstar của điện ảnh SG hồi đó) đóng một bộ phim khác cũng có nội dung về lính VNCH có tên gọi “Người Tình Không Chân Dung” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Bộ phim này đã đoạt một loạt giải thưởng quốc tế hồi đó. Chủ yếu là các giải quan trọng như kịch bản, diễn viên …

Hình ảnh của Trần Quang trước 75 là một hình ảnh lai giữa Clark Gable và Marlon Brando. Một hình ảnh đàn ông, đa tình, phản kháng xã hội và thượng võ.

Sau 1975, Trần Quang đóng rất nhiều phim. Trong đó có một bộ phim rất đặc biệt là phim Con Thú Tật Nguyền của đạo diễn Hồ Quang Minh. Bộ phim này ra đời năm 1984 nhưng không được chiếu vì cũng nói nhiều đến biệt kích dù của VNCH. Sau đó nhờ thời kỳ mở cửa của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà bộ phim này được đến với công chúng. Thời kỳ mở cửa ngắn ngủi đấy đã cho ra đời một nhà văn (nay đã tàn) là Nguyễn Huy Thiệp và làm hồi sinh một ngôi sao.

Trần Quang kể lại chuyện làm phim Con Thú Tật Nguyền mà vẫn còn xúc động. Bởi năm 84 còn nghèo và thô sơ lắm. Làm phim tâm huyết là chính. Bên quân đội hỗ trợ hết mình. Trần Quang bảo nếu không có hai ông thiếu tá lái máy bay quá giỏi thì chết trong lúc làm phim rồi. Vì máy bay là máy bay cũ của quân đội Mỹ, cái thang dây cũ quá rồi. Đóng cảnh biệt kích leo từ dưới lên, Lê Cung Bắc leo xong rồi, đến lượt chú leo lên thì đứt 1 dây, cái thang nó giật và quay vòng vòng, quật chú vào các gốc cây. Hai ông thiếu tá phải lái rất giỏi mới giữ cho máy bay đứng yên để chú nhảy xuống đất. Xong cảnh đó Lê Cung Bắc chết ngất trên máy bay, còn hai ông thiếu tá toát mồ hôi, run chân tay.

Sau này Trần Quang qua Mỹ sống. Cũng là nhờ vào hụt vai Nguyễn Thành Luân (Ván Bài Lật Ngửa) mà đi được. Nhưng cũng là cái tiếc khi tuột mất một sự cộng tác với tên tuổi Lê Hoàng Hoa.

Trần Quang quay về VN với nhiều dự định kinh doanh, chắc chắn trong đó không thể thiếu những gì liên quan đến điện ảnh. Chỉ có điều xã hội và môi trường làm ăn nay phức tạp hơn nhiều, còn người đàn ông 66 tuổi Trần Quang đầy phong độ như năm nào, có vẻ như vẫn hồn nhiên lãng mạn quá.

Đăng tải tại đời | 1 bình luận

Tuyển Tập Trần Dần

Hãy sống như những con tầu phải lòng muôn hải lý
Mỗi ngày bỏ sau lưng nghìn hải cảng mưa buồn

***

Hôm nọ, cụ thể là cái hôm rằm tháng Giêng, mà là ban ngày, có bạn nhắc là ngày hội thơ thường niên ở Văn Miếu. Lại là lần thứ 6 cơ đấy. Đang rảnh nên ghé qua ngó nghiêng. Tại đọc báo thấy năm nào cũng nhắc đến cái ngày thơ này, mà lại thường xuyên có món lạ, nên cũng phải đi xem một phát cho thêm tinh thần văn nghệ sỹ, nhân tiện bỏ bớt tính tiểu nông quê mùa. Đại khái là chả mấy khi vào Văn Miếu, rửa chân phát cho cái móng đỡ phèn.

Mẹ, hóa ra còn phèn hơn. Vãi cả lúa.

Xưa nay ai cũng biết Thơ bản chất tự nó có tương tác với cuộc sống và đương nhiên là có tương tác với tất tần tật các loại hình nghệ thuật khác. Ví dụ như nhạc chả hạn. Phú Quang, nhạc sỹ mỹ ký vĩ đại nhất Hà nội, chả xây dựng cả sự nghiệp vàng mạ của mình bằng việc phổ nhạc cho thơ đấy hay sao. Còn cái mục tiếng thơ trên đài tiếng nói VN ngày xưa (ko biết giờ còn không) lại chả ngâm thơ trên nền gảy đàn thập lục tí tách mấy chục năm trời. Rồi thơ trong chùa là các bài kệ ngâm nga í a í ới cùng tiếng mõ.

Nhưng mà ở cái ngày thơ hôm rồi ở Văn Miếu, ở sân trơi thơ chẻ, các nhà thơ cứ làm như đây là khám phá vĩ đại của làng văn nghệ thế kỷ 21. Lại còn đưa cả hip con bà nó hốp vào phụ họa nữa. Đến chết. Giữa trưa nắng 27 độ, thơ đọc qua loa phóng thanh pha trộn đủ các loại hình nghệ thuật khác vui đáo để, mỗi tội là không thấy bán kẹo kéo với leo cột mỡ. Mà cái quan trọng nhất của thơ, bất kể là perfomance ra sao, là ngôn ngữ rót vào tai thính giả, thì cứ bị ném mẹ nó đi đâu ấy.

Về nhà đọc blog mới biết là có vụ không cho bán tuyển thơ mới xuất của Trần Dần. Với lại có tin đồn cho rằng tập thơ này sắp bị thu hồi. Tối liền qua ngay Nguyễn Xí tính mua một cuốn.

Ngờ đâu tập thơ rất dày, in đẹp, sáng sủa, trắng trẻo, dày dặn. Cầm lên tay, mở ra xem, ngỡ ngàng quá. Người ta nỡ biến Trần Dần thành một thứ sạch sẽ như bồn rửa mặt cao cấp sặc mùi thuốc sát trùng thế này sao. Thật là ghê rợn. Không phải là tuyển tập Trần Dần, mà phải gọi là Tiêu Bản Trần Dần theo phong cách Dương Tường thời hồi xuân sau mở cửa mới đúng. Thật là tàn nhẫn.

Thế là bỏ không mua nữa. Hôm nay nghe nói bị ngừng phát hành rồi. Làm thế là đúng. Không thể để Tiêu Bản Trần Dần đi vào mainstream với giá 70 ngàn chưa discount như thế được. Cái gì thuộc về underground mãi mãi thuộc về underground. Trần Dần không phải cái để mà trưng lên giá sách. Lại càng không phải cái gối đầu giường. Lại càng càng không phải cái để mang ra đọc trong lúc uống latte ở Highlands. Trần Dần không bao giờ có tiêu bản.

Dịch giả tài năng Dương Tường hôm ngày thơ cũng tham gia performance poetry bằng một bài thơ thuộc loại khá nhất của ông cùng với sự hỗ trợ của hai nhà thơ nữ Dạ Thảo Phương và Phan Huyền Thư. Thơ của ông Dương Tường thì mọi người biết rồi, về cá tính, sự sáng tạo, hình ảnh thì là bản sao mờ nhạt của Trần Dân, về ngôn ngữ thì là sự bắt chước vụng về Lê Đạt. Cái bài thơ hôm vừa rồi, may sao, là bài khá nhất của ông.

Btw. Có cảm giác như tất cả các nghệ sỹ VN, dù là nhạc sỹ, họa sỹ, thi sỹ, …lúc giàu có lên rồi, đều sáng tác như kẹt hoặc như lìn (tùy là nữ hay nam). Thế là thế chó nào? Thật là phản xã hội.

 

 

Đăng tải tại nhảm | 3 bình luận

Phục Dựng Tháp Báo Thiên

Mấy hôm trước Tết đọc báo thấy Hà nội có ý tưởng phục dựng lại tháp Báo Thiên, một trong An Nam Tứ Đại Khí. Tuy nhiên ngoài việc tiền bạc, thì vị trí dựng tháp nay không còn nữa (chỗ cũ hiện là nhà thờ lớn Hà nội) và kiến trúc ngọn tháp nguyên thủy ra sao thì không ai biết. Sử sách chép về ngọn tháp hoành tráng này rất sơ sài.

Mấy hôm Tết rảnh rỗi, ngồi ngâm cứu sách vở, cộng với trí tưởng bở phong phú, và kiến thức vụn vặt, tôi ngồi bốc phét đầu năm ra kiến trúc của tòa tháp này. Mỗi tội không biết vẽ, nên không làm sao vẽ ra được. Đành google lấy một cái ảnh hao hao về hình dáng để lên trên đây, còn thì dùng lời mô tả. Tòa tháp trong ảnh vốn là ở Nepal. Về kích thước hẳn là bé hơn tháp Báo Thiên rất nhiều. Nhưng về hình dáng bên ngoài thì khá là phù hợp. Điểm khác biệt lớn nhất là tỷ lệ ngọn tháp, gồm 13 mâm tròn đồng tâm xếp lên nhau thì có tỷ lệ tương đối so với phần phía dưới thì lớn hơn rất nhiều. Tầng trệt của tháp Báo Thiên xịn cũng lớn hơn, có 4 cửa quay ra bốn hướng, được sử dụng giống như tam bảo của một ngôi chùa kiểu cổ. Ngoài ra, tháp được xây trên một ngọn đồi cao (chắc cỡ núi Nùng) nên lại càng hùng vĩ. Thế cho nên bão và sét đánh gãy tháp tới mấy lần vào các năm 1258, 1322, 1406.

Về số mâm tròn (số tầng tháp) thì sử sách ghi không khớp nhau. Con số hay được nhắc đến là 12 hoặc 13 tầng. Tuy nhiên tôi cho rằng số 13 là số đúng. Nhưng do cái dù (ô) bằng đồng ở đáy của đỉnh tháp che đi mất 2 tầng, cho nên đứng ngoài mà đếm thì thành 12 (tính cả cái dù là 1 tầng). Trong cái ảnh ở trên, cái dù là phần bằng đồng nằm ngay dưới đáy của ngọn tháp. Ngọn tháp chính là cái hình Mặt Trăng – Mặt Trời – Kim Cương ở phía trên cùng.

Xây tháp có thể xây từ 3 đến 13 tầng, tùy công đức người xây. Tất nhiên vua Lý Thánh Tông, là phật tử của dòng thiền Thảo Đường, phía bắc đánh Tống, phía nam bình Chiêm, thì công đức chắc lớn, nên xây phải xây hết cỡ 13 tầng rồi. Tháp Báo Thiên, cùng với bia văn Sùng Thiện Diên Linh và hội đèn Quảng Chiếu (sử dụng cực nhiều rối cạn và rối nước) là điểm nhấn của Mật Tông lên tôn giáo của các vua nhà Lý.

Trước khi mô tả chi tiết, xin nhắc lại vài nét về tháp Báo Thiên xịn.

Tháp Báo Thiên (còn gọi là Tháp Đại Thắng Tư Thiên) là công trình kiến trúc hoành tráng đầu tiên của Thăng Long. Cũng đồng thời là kiến trúc Phật giáo lớn nhất của Hà nội trong suốt lịch sử ngàn năm của thủ đô. Tháp thuộc chùa Sùng Khánh Báo Thiên nên còn gọi là tháp Báo Thiên cho gọn.

Tháp Báo Thiên, xưa được vua thứ ba của nhà Lý là Lý Thánh Tông xây dựng năm 1057. Trước đó một năm vua cho xây chùa Báo Thiên.

Năm 1136, Nguyễn Minh Không về cung chữa bệnh cho Lý Thần Tông, đi thuyền trên Nhĩ Hà còn nhìn thấy tháp.

Năm 1414, quân Minh bị Lê Lợi vây trong thành, đã dỡ ngọn của Tháp, được đúc bằng đồng, để mang ra làm đạn, bắn nhau với Lê Lợi.

Năm 1791 khai quật khu tháp Báo Thiên, lấy gạch đá để đắp thành Thăng long.

Sau này Pháp chiếm Hà nội, xây nhà thờ lớn trên khu đất của tháp Báo Thiên ngày xưa.

Thế là toi hẳn một ngọn tháp hùng vĩ.

Bây giờ quay lại với kiến trúc ngọn tháp.

+ Nền, hẳn là nền đá, dùng làm móng, trên một ngọn đồi cao.

+ Tầng trệt của tháp. Có bốn mặt. Được xây bằng gạch, có bốn cổng vòm đá (tôrana) ở mỗi mặt. Kích thước mỗi mặt chắc phải cỡ thành Cửa Bắc (hiện vẫn còn). Các viên gạch đều khắc dòng chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thuỵ Thái Bình tứ niên tạo”. Mỗi cổng vòm có hai pho tượng Kim Cương. Kích thước mỗi pho Kim Cương chắc cỡ tượng ở chùa Thầy (cũng được xây tầm đấy, hiện vẫn còn). Ngoài ra còn nhiều tượng chim muông thú khác để decor tâm linh. Để tiếp cận 4 mặt của tầng trệt, phải đi qua ba bậc thềm đá lớn, tượng trưng cho Tam Bảo. Phía mái của tầng trệt, có thể được decor bằng gỗ lớn, giống Tam Bảo của chùa Thầy.

+ Trên nóc tầng trệt là một ngọn pyramid cụt, có bốn bậc, xây bằng gạch. Tượng trưng cho Tứ Vô Lượng.

+ Trên pyramid này là Bình Tịnh Thủy (Bumpa), tượng trưng cho bình chứa nước cam lồ theo phật giáo Mật Tông. Bình Tịnh Thủy trong cái ảnh của một chùa tháp Nepal phía trên có một cửa sổ tượng phật. Có thể tháp Báo Thiên xịn không có cửa sổ này. Bình Tịnh Thủy tượng trưng cho Thất Giác Chi hay còn gọi là Thất Bồ Đề Phần (Thất Giác Đạo). Tiếng Phạn là Satta Sambojjhanga).

+ Trên Bình Tịnh Thủy là chân đế bằng đá (harkima) của cái ô (dù). Ngọn ô (dù) này có cọc (pole) chạy xuyên suốt từ nóc của tầng trệt lên ngọn tháp. Chân đế bằng đá là hình bát giác, tượng trưng cho Bát Chánh Đạo.

+ Trên chân đá, lấy trục ô (cedar pole) làm tâm, là 13 mâm tròn bằng gạch đồng tâm, tượng trưng cho 13 powers của Đức Phật. Trong cái ảnh minh họa phía trên, tỷ lệ không phù hợp với tháp Báo Thiên xịn. Trong thực tế tỷ lệ của phần 13 tầng tháp này so với phần dưới, có lẽ tương đương với tỷ lệ của Cột Cờ Hà Nội so với phần đế (cột cờ hiện vẫn còn). Tầng thứ ba của tháp (là tầng tối thiểu khi xây tháp như đã nói ở trên) có khắc bốn chữ Thiên Tử Vạn Tuế. Cái này rất hay, vua Lý hồi đó cũng đã nhận béng mình là Thiên tử, mặc dù theo thiền phái Thảo Đường.

+ Hết tầng tháp thứ 13 (mâm tròn thứ 13) là một tán đồng, giống cái ô, phủ xuống che hai tầng tháp như đã nói ở trên. Tán đồng này tượng trưng cho Từ Bi (Karuna)

+ Trên cùng là ngọn tháp. Gồm mặt trăng lưỡi liềm, ôm lấy mặt trời, trên mặt trời là kim cương. Mặt trăng tượng trưng cho Bồ Đề Tâm (Bodhicitta). Mặt trời tượng trưng cho Trí Tuệ (Prajna). Kim cương (hoặc ngọc sáng) tượng trưng cho Giác Ngộ. Điều thú vị là ngọn tháp, vốn đúc bằng đồng nặng , có khắc chữ Đao Ly Thiên, có ý nói kinh đô Thăng Long nối liền với bầu trời, là trung tâm của nước Nam, nơi vua Nam trị vì như Thiên Tử. Vừa logic với chữ “Thiên Tử Vạn Tuế” ở tầng thứ 3 của tháp, vừa logic với câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Nó cũng cho thấy vua ngày xưa tuy sùng đạo Phật nhưng vẫn đề cao chủ nghĩa dân tộc.

Tổng chiều cao của cả tháp Báo Thiên chắc phải tới mấy chục mét (30 trượng). Nhìn từ xa, cái thời hồng hoang ấy, thì quả là hoành tráng thật. Nhất là phía trước tháp là hồ Tả Vọng (Hoàn Kiếm), sau là Hoàng Thành, đều không có công trình kiến trúc nào cao lớn cả.

Còn về vị trí phục dựng tháp Báo Thiên. Do Tòa Khâm Sứ có khi bị trả lại cho nhà thờ (miếng đất này đẹp thật, xưa là cái vũ trường Palace khá nổi tiếng) cho nên hơi bí chỗ.

Chỗ còn lại khả dĩ nhất chính là khu đất của vũ trường New Century, hiện đang ngừng hoạt động.

Đăng tải tại đạo | 2 bình luận

Ba Mươi Năm Nữa Hoàng Sa

 Ai cũng nói TQ đang ngày càng lớn mạnh. Kinh tế tăng trưởng ào ào. Sẽ là nền kinh tế lớn nhất vượt qua Mỹ. Rồi thì phóng thành công vũ trụ. Rồi thì đầu tư kinh khủng vào quân sự. Rồi thì hiện đại hóa hải quân. Rồi thì TQ đang thể hiện rõ tham vọng bá quyền, muốn thôn tính biển đông thành ao nhà. Rồi thì nhiều lắm …

Nhưng có gì lạ đâu. Xưa nay, suốt mấy ngàn năm, lúc nào TQ cũng là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chỉ có từ cuối thế kỷ 19 Mỹ mới vượt qua là nhờ công nghệ. Nay TQ cũng tập tọng có công nghệ và lấy lại vị thế cũ.

Nhưng nền kinh tế lớn nhất thế giới này vẫn là nền kinh tế có số dân sống nghèo đói nhiều nhất.

Quân đội TQ cũng vậy, lúc nào cũng hoành tráng, từ thời Tần Thủy Hoàng đến giờ. Nhưng chưa bao giờ họ là đội quân bách chiến bách thắng. Gần đây nhất là nỗi nhục bị phát xít Nhật nó dẫm đạp. Đến giờ vẫn còn nhục không ngước mặt lên được.

Mấy chục năm liền phát triển ngon lành, và từ bây giờ họ sẽ phải trả giá. Mỗi năm họ phải tạo ra 25 triệu việc làm mới để đảm bảo cho kinh tế không suy thoái. 25 triệu new jobs mỗi năm. Thử nghĩ mà xem. Cầm cự được bao lâu. Cùng với việc làm là thiếu hụt trầm trọng năng lượng và ô nhiễm môi trường. Liệu cầm cự được bao lâu.

Càng căng mình ra cầm cự, càng insecurity từ bên trong.

Mấy chục năm trước đây họ đã có một Thiên An Môn. Nhờ sự trung thành tuyệt đối của quân đội và sự đoàn kết cực độ của lãnh đạo TQ mà nhà cầm quyền TQ vượt qua sự biến ấy. Nhưng có mấy ai biết được cũng năm đó, tuần đó, không chỉ có Thiên An Môn mà protest của giới elite TQ xảy ra ở hơn 130 tỉnh thành. Chỉ có điều người ta nhớ đến mỗi Thiên An Môn.

Khác với người Việt chúng ta, người TQ tàn nhẫn hơn, cực đoan hơn, và thù dai hơn rất nhiều. Họ không biết tha thứ như người Việt. Những sự việc như Thiên An Môn, một ngày nào đó sẽ phải trả giá. Rồi sẽ đến Tây Tạng, Nội Mông. Rồi sẽ đến Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ.

Trung Quốc càng phát triển, phân cách giàu nghèo càng lớn, khả năng tiếp cận thông tin càng nhiều, nông dân TQ càng khát khao khởi nghĩa và đòi trả giá. Ngày xưa máu đã đổ ở Tây Tạng, Nội Mông, Thiên An Môn. Thì tương lai TQ sẽ sụp đổ bởi máu của quá khứ.

Nhà cầm quyền TQ còn tồn tại khỏe đến ngày nay là nhờ:

+ Những lãnh tụ đầu tiên của họ là những người có charisma bẩm sinh, họ sinh ra và trưởng thành trong bão táp cách mạng. Họ có nói sai nhân dân vẫn nghe. Người cuối cùng như vậy chính là Đặng Tiểu Bình.

+ Lãnh đạo TQ, dù lúc thế này lúc thế kia, nhưng lúc có biến, họ hết sức đoàn kết để bảo vệ chính quyền.

+ Quân đội TQ đặc biệt trung thành với cách mạng.

Sự kiện Thiên An Môn là ví dụ điển hình của ba điều trên.

Nhưng nay đã khác. TQ ngày càng bất an từ nội tại đất nước, trong nội tại lãnh đạo, và đặc biệt là bất an ngay trong não của các nhà lãnh đạo. Kinh tế càng phồn vinh, họ càng lo sợ. Chiêu bài duy nhất mà họ có thể sử dụng được hiện nay là chủ nghĩa dân tộc mà điển hình là các thành tựu mị dân như phóng vũ trụ, hoặc mạnh mẽ nhất là chủ nghĩa bá quyền. Tức là nhìn tỉnh táo từ ngoài vào, mọi sự khoe mẽ của TQ, đặc biệt là quân sự và gây hấn biển đông, chỉ là sự khỏa lấp đi sự bất ổn trong nội tại TQ và nỗi bất an trong tư duy của các nhà lãnh đạo TQ. Đặc biệt là quân sự, đầu tư đột biến vào quân sự của TQ cho thấy chính quân đội của họ không còn trung thành với cách mạng nữa. Tăng ngân sách đột biến cho quân đội, chỉ là chiêu bài mua lấy sự trung thành của quân đội cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân trong lãnh đạo TQ mà thôi. Còn điều này lại cho thấy, lãnh đạo không còn đoàn kết vì cách mạng nữa.

Nhanh thì 10 năm nữa, chậm thì 30 năm nữa, TQ sẽ sụp đổ. Nó sẽ sụp đổ như sự thật tất yếu là một empire kiểu như thế sẽ phải sụp đổ.

Trong lúc đó VN chúng ta cứ kiên nhẫn làm giàu rồi luyện công.

Nó đổ thì mình sẽ lấy lại những gì mình đã mất.

Dân tộc trả thù, dăm bảy chục năm không có gì là muộn.

Đăng tải tại Uncategorized | Chức năng bình luận bị tắt ở Ba Mươi Năm Nữa Hoàng Sa

Hoa Hồng Nở Trong Đêm

Nhà thơ thần học Angelus Silesius có một câu thơ nổi tiếng bằng tiếng Đức. Câu thơ này được Jorge Luis Borges dịch ra là “The rose is without explanation. She blooms, because she blooms.”

Câu thơ này cũng được Heidegger nhắc đến trong cuốn “The principle of reason”. Nhờ đó câu thơ này khá nổi tiếng ở Saigon ngày xưa nói chung và trong giới trí thức phật giáo nói riêng. Câu thơ ấy được dịch ra tiếng Việt nhiều khiểu khác nhau, tùy theo văn cảnh, nhưng đại ý là:

“Hoa hồng nở chẳng vì sao”

Hoa hồng nở vì lẽ tự nhiên, không cần ai chiêm ngưỡng, không cần ai thúc giục. Giống như bản chất khách quan của cuộc sống là dòng chảy tự nhiên theo thời gian.

Khi xa nhà người ta thường hay có cảm xúc nhớ về một quãng thời gian đặc biệt nào đó trong năm mỗi khi nghe một bài hát nào đó. Có người nghe “Quán cafe mùa hè” là nhớ những chiều đi chơi với bạn bè ở Hà nội. Có người nghe “Làng lúa làng hoa” là nhớ Tết mưa phùn. Có người nghe “Khúc giao mùa” là nhớ đám cưới bạn mùa thu.

Có những lần tôi nghe Swing Low Sweet Chariot, bản của Clapton hát theo kiểu reggea, tôi nhớ đồng quê. Cái nhạc điệu đung đưa và giọng hát hiền lành của Clapton mang tôi về miền tây, trên chiếc xe thổ mộ bánh gỗ, thong thả chạy trên cánh đồng xanh rộng lớn, rộng đến mức mây trên bầu trời dường như sa xuống ngay trước mặt. Nó đưa tôi về cánh đồng ngoại thành Hà nội, nơi mà cuối thu ta có thể đạp xe lọc cọc một mình trong sương chiều và khói rạ. Nó đưa tôi lên con đò cuối ngày đông, rời bến Thiên Trù một mình trong ánh sáng nhá nhem, nghe tiếng mái chèo thong thả khua nước lạnh.

Một năm trôi qua, có những lúc hối hả gấp gáp, tưởng như không kịp để rồi lỡ bao nhiêu việc, có những lúc lề mề không biết bao giờ mới tiến được lên. Nhưng thời gian, là đại lượng khách quan bậc nhất của tự nhiên, thực ra lúc nào cũng chảy qua đời ta thong thả và đều tăm tắp.

Giá mà ta bước qua được hố thẳm của nhận thức, để đứng trên trục thời gian, nhìn lại bản ngã của chính mình đang hối hả hoặc lười nhác trôi theo cuộc đời, hẳn ta sẽ tiếc nuối lẽ ra mình phải như bông hồng nở mà chẳng vì sao.

Muốn được ngồi đò trên suối vắng
Vươn tay vào không gian tĩnh lặng
Hái bông hồng đang nở trong đêm.

***

Các bài viết trong loạt bài về Thời Gian
1) Deus Sive Natura
2) Con mèo Schrodinger
3) Buổi sáng Heisenberg
4) Hoa hồng nở trong đêm
5) Manifold
6) Phong tục của tình yêu

Đăng tải tại sống | Thẻ | 1 bình luận

Nhớ Tiếng Gà

 Tiếng gà gáy sáng, khi nắng ban mai mới hé vào khung cửa mùa đông, là tiếng gõ cửa của cuộc sống đơn sơ thanh vắng.

Tiếng gà gáy sáng, con này gáy theo con kia, lan đi lan lại giữa những ngôi nhà vườn nằm lặng trong thung lũng buổi sớm.

Tiếng người lớn gọi con dậy đi học.

Tiếng kéo gầu từ giếng sâu.

Tiếng thau nước va vào nhau khe khẽ.

Tiếng thở của chính mình, dài và nhẹ nhàng, cùng làn khói từ miệng thở ra ngoài khung cửa.

*

Tiếng gà gáy, lâu lắm rồi, không mấy ai còn nghe thấy nữa.

Mất hai tiếng đồng hồ đi xe đò buổi tối và nửa tiếng đi bộ để đến được cái nhà trọ nghèo nàn dưới chân núi ấy.

Chỉ để nằm đọc sách trong cái lạnh 6 độ của mùa đông trong nhà trọ tồi tàn chỉ có nhõn cái giường và một cái bàn gỗ.

Và để tiếng gà gáy sáng gọi mình thức giấc đón nắng qua khe núi.

Rồi lại lên xe đò trở về, cho kịp giờ đi làm.

Giữa bao người xuôi ngược xung quanh, có mỗi mình mình, ba lô trên lưng, và tiếng gà gáy sáng bao nhiêu lâu rồi mới thấy.

Đăng tải tại sống | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhớ Tiếng Gà

Entry for January 02, 2008

 muốn cưỡi con ngựa hoang

chạy băng qua lũng đá

dừng trên vách tai mèo

phơi mình ra gió buốt

*

nhìn xuống đáy thung sâu

ngước lên trời nắng chói

móc trái tim bốc khói

dang tay mời chim ưng

Đăng tải tại Uncategorized | 1 bình luận

Sa Man Giáo

Sa Man Giáo (Shamanism)

Điều thú vị nhất là có vẻ như thuật ngữ Sa Man có nguồn gốc từ vùng Trung Á thuộc Liên Xô cũ. Đó là vùng đất lanh quanh Mãn Châu Lý, Mông Cỏ, Tây Tạng gì đó có ảnh hưởng nặng của các tín ngưỡng dân gian pha trộn với phật giáo cổ. Danh từ Shaman có được là do từ gốc được Châu Âu nhập khẩu qua nước Nga.

Shaman giáo nghe thì là lạ chứ nó là mẫu số chung văn hóa dân gian có ảnh hưởng nhiều yếu tố tâm linh. Ở Việt Nam mình nó chính là hầu đồng. Và cũng như khu vực chịu ảnh hưởng mật giáo từ thế kỷ 7, 8 như Tây Tạng, Mông Cổ, Phật giáo ở bắc Việt nam cũng chịu ảnh hưởng nhiều của Shaman giáo.

Sở dĩ tự nhiên nói đến cái này vì gần đây tự nhiên đi dự một buổi hầu đồng. Trước nghe nói nhiều rồi, cũng ngó qua loáng thoáng nhiều rồi, biết là nhiều nghệ nhân đã được nhà nước công nhận thay vì bị coi là mê tín dị đoan như trước. Tiếc là các vị được công nhận hoặc là đã khuất hoặc già quá. Còn đám hầu đồng bây giờ đa phần là thương mại hóa (đoán thế).

Để cho dễ hiểu, ai mà đã từng xem phim đọc truyện về dân da đỏ ở Mỹ (ví dụ phim the Missing) sẽ thấy dân da đỏ hay chơi bùa ngải rồi lên đồng gọi hồn gọi hiếc về chữa bệnh.

Nhân tiện, The Missing rất hay, có sự tham gia của hai ngôi sao Cate Blanchet và Tommy Lee Jones. Trong phim này Tommy đóng vai một người da trắng sống chung với dân da đỏ Apache ở biên giới Mexico. Vai diễn của Cate là một người mẹ kiên cường, truy lùng dân da đỏ để cứu con gái. Nhân tiện phát nữa, Cate có một vai quái thủ rất lạ lùng trong Bandits (đóng chung với Bruce Wiliis và Billy Bob Thorntorn).

Shaman giáo là sự kết hợp kỳ lạ giữa đời sống tâm linh và thiên nhiên. Các ông đồng bà cốt là những người làm cầu nối giữa hai thế giới này. Giới tính của họ bởi vậy cũng hơi bị ái nọ ái kia.

Để đi từ thế giới tự nhiên qua thế giới tâm linh thì các ông đồng bà cốt phải tự thôi miên mình để đạt ngưỡng hưng phấn đi mây về gió. Các công cụ hỗ trợ cho việc tự thôi miên này chính là nhạc (ở ta là bộ gõ, đàn nguyệt, hát, kể chuyện do cung văn chơi), khói (ở ta là hương, thuốc lá), trang phục (ở ta thì mỗi giá đồng thay một bộ quần áo, ngồi xem mà đến chóng mặt), múa. Điều kỳ lạ là nếu hầu đồng giỏi thì không chỉ ông đồng bà cốt get high mà đám đệ tử cũng thăng cả, không khí rất chi là phấn khích. Khi lên đồng thì ông đồng bà cốt đứng lên múa rất ác. Lúc thánh thăng xong thì tỏ ra mệt mỏi (hehe, tự thôi miên để get high, lúc xong không mệt mới là lạ).

Shaman giáo nói chung là hao hao giống nhau, được vận dụng vào các việc chữa bệnh (ở ta thì cái này dị đoan rõ, cái gì mà uống bát nước pha tàn hương mà bách bệnh tiêu tan), xin lộc thánh (tiền tài, con cái).

Các thầy Shaman xịn (ông đồng bà cốt xịn) thường là hiểu biết sâu sắc về văn hóa dân gian thông qua các câu truyện truyền thuyết về các vị thần linh và lịch sử tộc người của mình. Ở ta thì toàn các vị hoành tráng, trong đó có nhân vật có thật như Hưng Đạo Vương lẫn nhân vật huyền thọai như Bà Chúa Liễu.

Do Shaman giáo có lịch sử lâu đời. Nó là dòng chảy chung với văn hóa dân gian và là một dòng tín ngưỡng dễ bị lợi dụng. Ở các dân tộc không có ảnh hưởng của một tôn giáo khác thì Shaman có chỗ đứng mạnh mẽ hơn. Giống như ở người Da Đỏ chẳng hạn. Ở Việt Nam thì các dân tộc như Mường, Nùng, Dao hay các dân tộc ở Tây Nguyên đều có các ông như kiểu thầy mo hành lễ cho Shaman giáo.

Văn hóa đi kèm Shaman giáo có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa dân gian của mỗi dân tộc. Các trường ca Ê Đê hay các áng mo mường dài dằng dặc kể về lịch sử dân tộc là sản phẩm của văn hóa ca ngợi thần thánh tổ tiên của Shaman giáo. Ở bắc bộ nó phát triển hơn, thành âm nhạc đàng hoàng. Ngày xưa vào các ngày sóc vọng, các ông thủ từ thường tổ chức lễ tưởng nhớ các vị thần bảo trợ, trong đó có sử dụng cung văn để hát văn. Hát văn ngày xưathiên về hướng ca ngợi thánh thần và các anh hùng dân tộc. Mỗi giá văn kể chi tiết về một nhân vật nên nó cũng có giá trị của sử liệu. Nó cũng là một hình thức để người nay tỏ lòng biết ơn và nhớ đến người xưa.

Shaman giáo ở Việt Nam, tuy ngày càng bị thương mại hóa (dị đoan hóa) nhưng cũng vẫn là cái phải giữ gìn. Vì đi cùng với nó là văn hóa dân gian, là Thần Giáo của Việt nam (là một thứ đã hòa tan đủ các thứ đạo trên đời, từ đạo lão, phật giáo đến phong thủy, bùa chú trừ tà chữa bệnh, sấm ký).

Đăng tải tại đạo | 1 bình luận

Thơ Phạm Tiến Duật

Nhân việc topic Phạm Tiến Duật ở lven bị đi quá đà (do tôi), tôi xin kể một câu chuyện nhỏ.

Tôi học chuyên tổng hợp, cách đây 20 năm. Lúc đó khối chuyên của bọn tôi chỉ có 3 lớp, mỗi lớp độ 20 học sinh. Giáo viên của khối chỉ có vài thầy cô chuyên trách. Các môn học, đều phải mời giảng viên từ các khoa của đại học tổng hợp về dạy. Trừ môn toán, lý là các thày ruột, còn các môn Sử, Văn, Sinh Vật, Hóa … đều là giảng viên từ các khoa của đại học tổng hợp đến dạy. Thày dạy môn văn là thày Chỉnh. Thày Chỉnh dạy môn văn cho lớp tôi suốt 3 năm.

Thày Chỉnh có lẽ là người yêu thơ. Thày đọc thơ rất hay. Gu thơ của thày cũng khá lạ.

Ngoài việc dạy văn theo giáo trình, thày còn dạy những thứ khác.

Sự kiện Thiên An Môn, xảy ra đúng thời kỳ đó, chúng tôi được biết là do thày Chỉnh kể. Qua lời kể của thày, một đứa trẻ con 15 tuổi nhà quê như tôi, tưởng tượng ra cảnh xe tăng đi trước, xe cứu hỏa đi sau, xịt nước rửa máu và thịt sinh viên trên cái quảng trường khổng lồ mà tới bây giờ tôi vẫn chưa nhìn thấy.

Thày còn kể cho chúng tôi những bộ phim. Trong đó có bộ phim Hà Nội Trong Mắt Ai. Qua lời kể của thày, tôi thấy hội trường Ba Đình trải thảm đỏ, xe Volga đen bóng, và các ông cụ già ăn bánh mì.

Thày đọc thơ Hồ Chí Minh, những bài thơ chúc Tết không vần, bằng giọng đọc vô cùng truyền cảm.

Và đặc biệt là thày đọc những bài thơ “lạ” của Phạm Tiến Duật. Có ba bài thơ ngắn mà tôi rất ấn tượng. Một là bài có cái đoạn nằm ngửa nhớ gì, nằm nghiêng nhớ gì, nằm sấp nhớ gì. Hai là bài ai bẩu nước Lào không có biển. Ba là bài Vòng Trắng.

Hôm nay báo TTVH, trong mục Thơ Chọn, đã làm một việc rất có ý nghĩa. Đó là đăng lại bài thơ bi tráng “Vòng Trắng” trong lúc dùng sa-pô giới thiệu giải thưởng thơ Văn Nghệ 1969-1970 cho chùm thơ 4 bài thơ hùng tráng của Phạm Tiến Duật.

Bài thơ Vòng Trắng rất ngắn. Ra đời năm 1974. Sau đó Phạm Tiến Duật lao đao vì bài thơ này.

Vòng Trắng

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong

Trước khi đọc bài thơ này cho cả lớp nghe, thày Chỉnh có kể về hoàn cảnh ra đời bài thơ. Đó là một đêm Phạm Tiến Duật và bạn đi thăm một làng bị ném bom. Hình như là một làng ở Hà Đông. Ở đó Phạm Tiến Duật nhìn thấy rất nhiều người chết và rất nhiều người đeo khăn tang màu trắng.

Tôi đã biết thơ của Phạm Tiến Duật như thế, từ khi còn ngây thơ như thế.
Tôi có gặp Phạm Tiến Duật một lần duy nhất. Ở một đám giỗ. Sau khi được giới thiệu 5xu là ai, Phạm Tiến Duật nâng ly bia lên bảo tôi: thế là cháu đây à, đẹp giai nhỉ, nhưng mà hơi nhỏ con.

Quay lại với thơ của Phạm Tiến Duật, tôi cho rằng nhận xét xác đáng nhất về thơ của Phạm Tiến Duật là: “Về thơ, Phạm Tiến Duật ngồi riêng một chiếu”. Câu này hình như của Trần Đăng Khoa. Ba bài thơ tôi nhắc ở trên, quả thật, ngồi riêng một chiếu.

Đăng tải tại đời | Thẻ | 1 bình luận

Gọt Mã Thầy

1.

Mỗi khi buồn người ta thường ngắm hoàng hôn. Hoàng tử Bé nói thế.

Mỗi hoàng hôn vớt đi một nỗi buồn. Mỗi ngày mới mang tới một niềm vui. Nhưng làm sao lấy đi được sự thất vọng. Nhất là khi ta thất vọng với chính cuộc sống của mình. Sự thất vọng, như một con bạch tuộc khổng lồ kéo người ta xuống đáy biển sâu lạnh lẽo. Sâu đến mức người ta không còn thiết đạp chân để ngoi lên thở. Cho dù cái đáy vực sâu ấy, chỉ là cái đi-văng trong phòng khách nhà mình, nơi mình đang nằm để mặc kệ con bạch tuộc nó lôi mình chìm xuống.

Tôi nằm trên cái đi-văng màu mận chín, trong một buổi chiều hè oi ả, nghe Adagietto của Mahler, tự mình đưa đám ma của chính mình trong nghĩa địa san hô dưới đáy đại dương.

Tiếp tục đọc →
Đăng tải tại gái | Thẻ | 12 bình luận