Ông tôi, cậu tớ, chúng mày, chúng tao

Trần Quang Đức mới có bài viết giải thích rằng cách xưng “tôi” ngày xưa khác với xứng “tôi” ngày nay. Ngày nay chúng ta xưng “tôi”, sắc thái của nó được hiểu là ngang bằng, trung tính, với người đối diện. Cách xưng hô ấy gọi là “ông vs tôi”.Nhưng ngày xưa nó là cách nói, trước là hạ mình, sau là khiêm cung. 

Song song với cách xưng hô “ông vs tôi”, là một cách xưng hô có phần gần gũi, thân mật hơn, giữa bạn bè với nhau, và thêm được cả hai giới tính, đó là “cậu vs tớ” . Hoặc suồng sã, hoặc gay gắt hơn tuỳ bối cảnh, đó là  “mày vs tao”.

Ngày nay “tôi” và tớ” đi với nhau vẫn là vận của kẻ dưới, phận “tôi tớ”. Nó là dấu vết của bề “tôi” với “ông”, của người “tớ” gái với “cậu” chủ. Với số nhiều, nó là “bầy” (như bầy đàn) trong “bầy tôi rập đầu cắn cỏ tạ lỗi đức ông”. Ông chủ xưng tao (và ở ven sông Hồng ngoại thành nam Thăng Long là xưng “ta”) với kẻ dưới và gọi họ là “bay”, “tụi bay”, “chúng bay”, “mi” và “tau”. Cuối cùng sẽ là “mày tao”, “tụi mày”, “chúng tao”. 

Từ lối xưng hô hạ mình xuống “tôi tớ”, nay đã thành lối nói ngang hàng, và vô cảm. Lối nói hạ mình, có sắc thái nam nữ, nay thành thân mật, cậu tớ và rồi ấy tớ.

Nhưng “ái quốc” lại không có cái may mắn diễn tiến như vậy. Đã có lúc ái quốc chuyển mình hoàn toàn thành yêu nước theo lối hiện đại văn minh, thế rồi lại bị đẩy lùi về lối trung thành với chế độ.

*

“Ái quốc” (愛國 /àiguó) là một từ cổ, xuất hiện muộn nhất cũng phải từ thời chiến quốc. Nhưng “ái quốc”  ấy nó là lòng trung thành với “quân” và  “vương” và “triều” và sau này trung thành và bảo vệ các “đế chế” xây dựng trên nền văn minh Hoa Hạ, hoặc văn minh sông Hồng (trước là loyalty to the local ruler or feudal lord, sau là loyalty to the Emperor and the preservation of Hoa Hạ/Hồng Hà civilizations from foreign conquest).

Sau khi Lương Khải Siêu, đầu thế kỷ 20, giới thiệu một định nghĩa “ái quốc” tân kỳ hơn (du nhập từ Nhật) về thì bên Tàu và ở Ta (trước là Nam Kỳ, sau là cả nước) mới hình thành các “phong trào yêu nước” hiện đại mà lòng ái quốc dịch chuyển đối tượng trung thành sang quốc gia (nation) và người dân của quốc gia ấy. (Lương Khải Siêu sử dụng cách dịch của người Nhật, họ dịch nation là dân tộc. Tiếp đó ông định nghĩa “dân tộc” là đại dân tộc có tính bao trùm). Đại dân tộc Việt có cốt lõi là dân tộc Kinh bao trùm thêm các dân tộc anh em, tất cả cùng chung sống trong một quốc gia có tên là Viêt Nam.

Trong thế giới hiện đại, tình yêu đất nước  trước hết là một tình cảm cá nhân, ẩn giấu và cô đọng. Nó ngầm định, phi tập trung. Nó không phải là nghĩa vụ bị áp đặt. Nó không tuyệt đối. Trong xã hội hiện đại, yêu nước là một tình cảm “civic” (công dân) cần được nuôi dưỡng và kết tinh chậm chạp qua nhiều thế hệ trong “civic society” (xã hội công dân, xã hội dân sự). Yêu nước bao hàm cả nghĩa vụ “question”, “veto” và đòi hỏi khế ước xã hội. 

*

 “Yêu nước”, cùng với nó là “thương nòi”, nếu thực lòng và thực thà, không thể trống rỗng. Vì nó một thứ tình cảm đặc biệt được kết tinh qua thời gian. Bởi nó không trống rỗng nên nó không thể bị bơm thổi dễ dàng thành thứ bong bóng bề ngoài (mõm) với cờ quạt hò hét ngạo nghễ và bắn pháo hoa.  

“Ái quốc” trống rỗng không chỉ tạo ra chỗ trú ẩn cho những kẻ vô lại (quên mất không nhớ ai nói câu này), mà còn đẩy những người yêu nước thực thà và thực tài ra bên lề, ghét bỏ và phá huỷ nòi giống, rồi dần dần (hoặc rất nhanh) làm mục ruỗng sức mạnh của đại dân tộc và quốc gia.

Hình đại diện của Không hiểu

About Blog của 5xu

Ti hí nhìn đời
Bài này đã được đăng trong Uncategorized. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.